Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây sắn (Manihot esculenta Crantz) là một trong những cây lương thực quan trọng tại các nước đang phát triển, xếp sau lúa gạo, ngô và lúa mì theo đánh giá của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO). Ngoài vai trò cung cấp lương thực trực tiếp cho hơn 500 triệu người, sắn còn là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến tinh bột, thức ăn chăn nuôi và sản xuất nhiên liệu sinh học (ethanol). Tại Việt Nam, diện tích trồng sắn năm 2012 đạt 550,60 nghìn ha với tổng sản lượng 9,75 triệu tấn. Tuy nhiên, sắn là cây trồng rộng hàng, sinh trưởng thân lá chậm trong 1–4 tháng đầu sau khi trồng, khiến bề mặt đất trống dễ bị xói mòn và rửa trôi dinh dưỡng nghiêm trọng, đặc biệt tại các vùng đồi dốc thuộc Trung du và miền núi phía Bắc.

Để khắc phục hiện tượng thoái hóa đất và tối ưu hóa hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác, biện pháp trồng xen các loại cây ngắn ngày (cây họ đậu, cây ngũ cốc) vào ruộng sắn đã được quan tâm nghiên cứu. Mặc dù vậy, việc thiếu hụt quy trình kỹ thuật chọn lựa cây trồng xen tương thích sinh thái với từng giống sắn mới cụ thể thường dẫn đến tình trạng cạnh tranh ánh sáng, dinh dưỡng, làm giảm năng suất củ và giảm phẩm chất thu hoạch. Đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của cây trồng xen đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống sắn mới HL2004-28 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên" do sinh viên Phan Thị Tình thực hiện nhằm cung cấp căn cứ thực nghiệm phục vụ sản xuất.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

  1. Đánh giá ảnh hưởng của cây trồng xen đến quá trình sinh trưởng và phát triển giống sắn mới HL2004-28.
  2. Nghiên cứu ảnh hưởng của cây trồng xen đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống sắn mới HL2004-28.
  3. Nghiên cứu ảnh hưởng của cây trồng xen đến chất lượng của giống sắn mới HL2004-28.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây trồng chính là giống sắn mới HL2004-28. Cây trồng xen gồm 4 giống: Giống lạc đỏ Bắc Giang (Arachis hypogaea), giống đậu tương ĐT22, giống đậu xanh T7 và giống ngô SSC586.
  • Phạm vi không gian: Trung tâm thực hành, thực nghiệm - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Cây sắn được theo dõi từ tháng 02/2013 đến tháng 12/2013; các loại cây trồng xen được theo dõi và thu hoạch từ tháng 02/2013 đến tháng 06/2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cây sắn thuộc chi Manihot, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), bộ Ba mảnh vỏ (Euphorbiales), có bộ nhiễm sắc thể $2n = 36$. Nghiên cứu dựa trên cơ sở sinh lý thực vật về mối quan hệ giữa tốc độ tích lũy vật chất khô, diện tích lá, khả năng quang hợp và sự phân phối sản phẩm đồng hóa giữa thân lá và củ. Cơ sở canh tác học dựa trên cơ chế che phủ đất giảm thiểu xói mòn và khả năng cố định đạm sinh học của cây họ đậu nhằm tái bổ sung chất hữu cơ tại chỗ cho đất trồng sắn.

Khóa luận áp dụng quy trình khảo nghiệm nông học chuẩn theo các văn bản và tiêu chuẩn kỹ thuật:

  • Quy chuẩn kỹ thuật áp dụng: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống sắn (QCVN 01-61:2011/BNNPTNT) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  • Quy trình canh tác: Theo hướng dẫn của Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT).

Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 5 công thức với 3 lần nhắc lại. Kích thước mỗi ô thí nghiệm là $7\text{ m} \times 7\text{ m} = 49\text{ m}^2$, tổng diện tích thí nghiệm đạt $800\text{ m}^2$ (tính cả dải bảo vệ).

  • Công thức 1 (Đối chứng - ĐC): Sắn trồng thuần.
  • Công thức 2: 2 hàng lạc xen giữa 2 hàng sắn.
  • Công thức 3: 2 hàng đậu tương xen giữa 2 hàng sắn.
  • Công thức 4: 2 hàng đậu xanh xen giữa 2 hàng sắn.
  • Công thức 5: 2 hàng ngô xen giữa 2 hàng sắn.

Kỹ thuật canh tác và định mức phân bón:

  • Mật độ sắn: $1\text{ m} \times 1\text{ m}$ (tương đương 10.000 cây/ha), đặt hom nghiêng $30^\circ$.
  • Mật độ cây xen: Gieo xen giữa 2 hàng sắn, cách hàng sắn 20 cm. Khoảng cách trồng lạc là $40\text{ cm} \times 15\text{ cm} \times 1\text{ hạt/hốc}$; đậu tương và đậu xanh là $30\text{ cm} \times 20\text{ cm} \times 1\text{ hạt/hốc}$; ngô là $70\text{ cm} \times 20\text{ cm} \times 1\text{ hạt/hốc}$.
  • Phân bón tổng hợp cho sắn và cây xen/ha: 15 tấn phân chuồng + 60 kg N + 40 kg $\text{P}_2\text{O}_5$ + 80 kg $\text{K}_2\text{O}$. Trong đó, định mức bón cho sắn là 10 tấn phân chuồng + 42 kg N + 12 kg $\text{P}_2\text{O}_5$ + 40 kg $\text{K}_2\text{O}$; định mức cho cây xen là 5 tấn phân chuồng + 18 kg N + 28 kg $\text{P}_2\text{O}_5$ + 40 kg $\text{K}_2\text{O}$ + 500 kg vôi bột. Sau khi thu hoạch sản phẩm chính của cây xen, toàn bộ tàn dư thân lá được vùi tại chỗ làm phân bón hữu cơ cho sắn.

Phương pháp thu thập và phân tích chỉ tiêu:

  • Tốc độ tăng trưởng chiều cao và ra lá: Đo đếm định kỳ 15 ngày/lần trên 5 cây cố định theo đường chéo góc của mỗi ô thí nghiệm.
  • Tuổi thọ lá: Theo dõi bằng phương pháp đánh dấu lá từ khi phát triển đầy đủ đến khi chuyển vàng.
  • Tỷ lệ chất khô (TLCK - %): Xác định theo phương pháp đo khối lượng riêng của CIAT bằng công thức: $$Y = \frac{A}{A - B} \times 158,3 - 142,0$$ (Trong đó: $Y$ là tỷ lệ chất khô; $A$ là khối lượng củ tươi cân trong không khí; $B$ là khối lượng củ tươi cân trong nước).
  • Tỷ lệ tinh bột (TLTB - %): Xác định bằng cân Reimann theo tiêu chuẩn CIAT.
  • Hệ số thu hoạch (HSTH - %): Tính theo tỷ lệ giữa năng suất củ tươi (NSCT) và năng suất sinh vật học (NSSVH): $$HSTH = \frac{NSCT}{NSSVH} \times 100%$$
  • Xử lý thống kê: Số liệu được tổng hợp trên Microsoft Excel và phân tích phương sai, so sánh sai khác có ý nghĩa thống kê ($LSD_{0,05}$, $CV%$) bằng phần mềm chuyên ngành IRRISTAT.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tổng quan về vị trí chiến lược của cây sắn trong cơ cấu an ninh lương thực và sản xuất công nghiệp toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Khóa luận phân tích nguyên nhân suy thoái độ phì đất dốc khi trồng sắn độc canh và khẳng định tính cấp thiết của việc áp dụng mô hình xen canh cây ngắn ngày. Phần này nêu rõ 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, ý nghĩa khoa học trong việc hoàn thiện phương pháp thực nghiệm nông học và ý nghĩa thực tiễn trong việc chuyển giao kỹ thuật canh tác bền vững cho nông dân.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Phần tổng quan tổng hợp lịch sử nguồn gốc cây sắn xuất xứ từ lưu vực sông Amazon (Brazil, Mexico, Bolivia) với niên đại hàng nghìn năm, du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 18. Tác giả dẫn chứng bảng thành phần dinh dưỡng của củ sắn theo FAOSTAT (2013) gồm: 65,50% nước; 1,00% protein; 0,20% lipit; 1,20% xenlulose; 32,10% tinh bột.

Chương này trình bày dữ liệu sản xuất sắn toàn cầu giai đoạn 2007–2012 (năm 2012 thế giới đạt 19,99 triệu ha, năng suất 12,83 tấn/ha, sản lượng 256,53 triệu tấn) và chi tiết năng suất các nước trọng điểm (Ấn Độ dẫn đầu năng suất với 36,41 tấn/ha; Nigeria có diện tích lớn nhất 3,85 triệu ha; Thái Lan đạt 1,25 triệu ha và 18,00 tấn/ha). Tại Việt Nam, diện tích sắn năm 2012 tập trung lớn nhất ở Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (174,90 nghìn ha), Tây Nguyên (149,50 nghìn ha) và Trung du miền núi phía Bắc (117,00 nghìn ha). Riêng tỉnh Thái Nguyên năm 2012 có diện tích 3,80 nghìn ha với năng suất 14,70 tấn/ha, sản lượng 55,80 nghìn tấn. Phần tổng quan cũng trích dẫn các nghiên cứu trong và ngoài nước (Howeler, Ghosh, Trịnh Phương Loan, Nguyễn Hữu Hỷ) chứng minh khả năng hạn chế xói mòn và nâng cao độ phì đất khi trồng sắn xen cây họ đậu.

Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết hệ thống vật liệu nghiên cứu (giống sắn HL2004-28 và 4 giống cây trồng xen), sơ đồ bố trí 5 nghiệm thức thí nghiệm RCBD với 3 lần nhắc lại tại Thái Nguyên. Tác giả mô tả chi tiết quy trình bón phân lót và 2 đợt bón thúc (sau trồng 45 ngày và 90 ngày), định mức gieo trồng, quy cách theo dõi các chỉ tiêu nông sinh học, phương pháp thu hoạch và công thức tính toán toán học cho năng suất củ tươi, năng suất thân lá, năng suất sinh vật học, tỷ lệ chất khô, tỷ lệ tinh bột theo chuẩn CIAT và QCVN 01-61:2011/BNNPTNT.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương kết quả trình bày diễn biến khí tượng năm 2013 tại Thái Nguyên (nhiệt độ trung bình $14,9 - 29,0^\circ\text{C}$, tổng lượng mưa tập trung cao nhất vào tháng 7 đạt 974,1 mm), phù hợp với các giai đoạn mọc mầm, phát triển sinh khối thân lá và tích lũy tinh bột của sắn.

Các kết quả thực nghiệm chính gồm:

  • Tốc độ sinh trưởng: Chiều cao cây tăng nhanh nhất vào tháng thứ 4 sau trồng (dao động $1,95 - 2,22\text{ cm/ngày}$), trong đó công thức xen ngô (CT5) đạt tốc độ vươn cao lớn nhất do chịu áp lực cạnh tranh ánh sáng. Tốc độ ra lá đạt cực đại ở tháng thứ 4 ($1,04 - 1,13\text{ lá/ngày}$) và giảm dần về tháng thứ 8 ($0,24 - 0,36\text{ lá/ngày}$). Tuổi thọ lá đạt cao nhất ở tháng thứ 5 ($84,27 - 90,83\text{ ngày}$).
  • Đặc điểm nông sinh học: Sắn trồng xen ngô có chiều cao cây lớn nhất ($337,02\text{ cm}$) và chiều cao thân chính cao nhất ($219,07\text{ cm}$), nhưng đường kính gốc nhỏ nhất ($3,08\text{ cm}$) và tổng số lá thấp nhất ($138,67\text{ lá/cây}$). Công thức sắn trồng thuần có đường kính gốc lớn nhất ($3,18\text{ cm}$) và tổng số lá cao nhất ($144,53\text{ lá/cây}$).
  • Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất củ: Các chỉ tiêu chiều dài củ, đường kính củ, số củ/gốc và khối lượng củ/gốc ở các công thức trồng xen họ đậu không sai khác có ý nghĩa thống kê so với đối chứng trồng thuần ở mức tin cậy 95%. Năng suất củ tươi của sắn trồng thuần đạt cao nhất ($37,47\text{ tấn/ha}$); trong các công thức trồng xen, xen lạc đạt năng suất củ tươi cao nhất ($34,40\text{ tấn/ha}$), tiếp theo là xen đậu tương ($32,87\text{ tấn/ha}$), xen đậu xanh ($31,93\text{ tấn/ha}$) và xen ngô thấp nhất ($31,00\text{ tấn/ha}$).
  • Chất lượng củ sắn: Tỷ lệ chất khô biến động từ $35,05%$ đến $36,22%$; tỷ lệ tinh bột đạt từ $23,07%$ đến $24,33%$.
  • Năng suất cây trồng xen: Công thức xen ngô cho năng suất hạt $28,90\text{ tạ/ha}$ và sinh khối thân lá trả lại đất $127,67\text{ tạ/ha}$. Công thức xen lạc cho năng suất củ khô $10,13\text{ tạ/ha}$ và thân lá trả lại đất $44,17\text{ tạ/ha}$. Công thức xen đậu tương đạt $8,73\text{ tạ/ha}$ hạt ($38,53\text{ tạ/ha}$ thân lá) và xen đậu xanh đạt $5,50\text{ tạ/ha}$ hạt ($24,30\text{ tạ/ha}$ thân lá).
Chỉ tiêu theo dõi CT1 (Sắn thuần) CT2 (Xen Lạc) CT3 (Xen Đậu tương) CT4 (Xen Đậu xanh) CT5 (Xen Ngô) $LSD_{0,05}$
Chiều cao cây (cm) 323,08 326,13 330,05 329,30 337,02 -
Đường kính gốc (cm) 3,18 3,14 3,10 3,14 3,08 -
Số củ/gốc (củ) 8,47 8,13 8,07 8,00 7,60 0,33
Khối lượng củ/gốc (kg) 3,75 3,44 3,29 3,20 3,10 0,14
Năng suất củ tươi (tấn/ha) 37,47 34,40 32,87 31,93 31,00 1,43
Năng suất thân lá sắn (tấn/ha) 25,27 27,53 27,00 27,40 29,33 1,44
Năng suất sinh vật học (tấn/ha) 62,73 61,93 59,87 59,33 60,33 2,28
Hệ số thu hoạch (%) 59,72 55,54 54,91 53,81 51,39 1,43
Tỷ lệ chất khô (%) 36,22 35,32 35,05 35,68 35,84 -
Năng suất củ khô (tấn/ha) 13,57 12,15 11,52 10,76 11,11 0,53
Tỷ lệ tinh bột (%) 24,33 23,20 23,07 23,23 23,07 -
Năng suất tinh bột (tấn/ha) 9,11 7,98 7,58 7,42 7,15 0,41
Năng suất thực thu cây xen (tạ/ha) - 10,13 8,73 5,50 28,90 0,40
Thân lá cây xen trả lại đất (tạ/ha) - 44,17 38,53 24,30 127,67 2,14

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Tác giả đúc kết các kết luận về phản ứng sinh trưởng và năng suất của giống sắn HL2004-28 khi xen canh với từng đối tượng cây trồng ngắn ngày. Khóa luận đưa ra các kiến nghị kỹ thuật về việc ưu tiên lựa chọn công thức trồng xen lạc đỏ Bắc Giang nhằm bảo đảm hài hòa giữa năng suất sắn, thu nhập phụ thu và duy trì độ phì nhiêu đất canh tác.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả thực nghiệm cụ thể và định lượng rõ ràng đối với giống sắn HL2004-28:

  • Tác động đến năng suất củ tươi và sinh khối: Trồng thuần cho năng suất củ tươi cao nhất ($37,47\text{ tấn/ha}$). Khi trồng xen, năng suất củ tươi của sắn giảm từ $3,07\text{ tấn/ha}$ đến $6,47\text{ tấn/ha}$ tùy loại cây xen, nhưng năng suất sinh vật học tổng thể không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các công thức ở mức tin cậy 95% (dao động $59,33 - 62,73\text{ tấn/ha}$, $LSD_{0,05} = 2,28$).
  • Đánh giá phẩm chất củ: Các chỉ tiêu chất lượng của sắn HL2004-28 duy trì ở mức cao trên tất cả các nghiệm thức: tỷ lệ chất khô đạt trên $35%$ ($35,05 - 36,22%$), tỷ lệ tinh bột đạt trên $23%$ ($23,07 - 24,33%$). Mức độ suy giảm tinh bột khi xen canh là không lớn ($1,10 - 1,26%$).
  • Lợi ích sinh thái và sản phẩm phụ: Việc trồng xen thu thêm sản lượng nông sản đáng kể ($10,13\text{ tạ/ha}$ lạc; $8,73\text{ tạ/ha}$ đậu tương; $5,50\text{ tạ/ha}$ đậu xanh; $28,90\text{ tạ/ha}$ ngô), đồng thời bổ sung một khối lượng thân lá hữu cơ tại chỗ rất lớn cho đất (từ $24,30\text{ tạ/ha}$ đến $127,67\text{ tạ/ha}$).

Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

  • Khuyến cáo áp dụng mô hình xen 2 hàng lạc đỏ Bắc Giang giữa 2 hàng sắn HL2004-28 trong sản xuất đại trà tại vùng Thái Nguyên. Đây là công thức duy trì năng suất sắn tốt nhất trong các nghiệm thức xen canh ($34,40\text{ tấn/ha}$ củ tươi; $7,98\text{ tấn/ha}$ tinh bột), đồng thời bổ sung $44,17\text{ tạ/ha}$ sinh khối thân lá giàu đạm trả lại đất.
  • Toàn bộ thân lá cây trồng xen sau thu hoạch phải được cày vùi trực tiếp vào gốc sắn kết hợp với đợt làm cỏ, vun xới lần 2 để bổ sung chất hữu cơ và giữ ẩm.

Đóng góp của đề tài: Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm hoàn chỉnh đầu tiên về đặc tính nông sinh học, khả năng sinh trưởng và các chỉ số phẩm chất của giống sắn mới HL2004-28 khi kết hợp với các mô hình cây trồng xen tại điều kiện sinh thái đồi núi Thái Nguyên, đóng góp cơ sở khoa học cho hệ thống canh tác sắn bền vững trên đất dốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài được tiến hành trong phạm vi một vụ canh tác (năm 2013) tại một điểm thí nghiệm duy nhất (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên), do đó chưa đánh giá được ảnh hưởng tích lũy nhiều năm của việc vùi thân lá cây họ đậu đến sự thay đổi lý hóa tính của đất (như độ pH, dung tích hấp thu, dung trọng đất) và mức độ suy giảm rửa trôi đất mặt qua các mùa mưa khác nhau.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Khảo nghiệm nhân rộng mô hình sắn HL2004-28 xen lạc trên các loại đất dốc và tiểu vùng sinh thái khác nhau thuộc Trung du miền núi phía Bắc; tiến hành nghiên cứu đa vụ liên tục để định lượng chính xác lượng đạm cố định sinh học và hàm lượng dinh dưỡng khoáng hoàn trả cho đất.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên cao học ngành Nông học, Khoa học cây trồng, Quản lý đất đai: Tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng RCBD, quy trình theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng thân lá, phương pháp xác định tỷ lệ chất khô và tinh bột bằng tỷ trọng chuẩn CIAT.
  • Cán bộ khuyến nông và kỹ sư nông nghiệp: Ứng dụng quy trình kỹ thuật mật độ, khoảng cách và định mức bón phân phối hợp cho mô hình sắn xen cây họ đậu nhằm chuyển giao kỹ thuật canh tác chống xói mòn cho đồng bào miền núi.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng số liệu chi tiết về động thái tăng trưởng chiều cao cây, tốc độ ra lá theo tháng và bảng so sánh các chỉ tiêu chất lượng củ sắn giữa các nghiệm thức xen canh.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận nghiên cứu trên giống sắn nào và sử dụng những loại cây trồng xen nào?
Khóa luận nghiên cứu trên giống sắn mới HL2004-28 (cây trồng chính) và 4 loại cây trồng xen gồm: Lạc đỏ Bắc Giang, Đậu tương ĐT22, Đậu xanh T7 và Ngô SSC586.

2. Công thức trồng xen nào cho năng suất củ tươi và năng suất tinh bột sắn cao nhất?
Trong 4 công thức trồng xen, công thức 2 (sắn xen lạc đỏ Bắc Giang) cho năng suất sắn cao nhất với năng suất củ tươi đạt $34,40\text{ tấn/ha}$ và năng suất tinh bột đạt $7,98\text{ tấn/ha}$ (so với công thức đối chứng trồng thuần đạt $37,47\text{ tấn/ha}$ củ tươi và $9,11\text{ tấn/ha}$ tinh bột).

3. Tỷ lệ chất khô và tỷ lệ tinh bột của củ sắn được xác định bằng phương pháp nào?
Tỷ lệ chất khô được xác định theo phương pháp đo khối lượng riêng của CIAT thông qua phép cân củ tươi trong không khí và trong nước ($Y = \frac{A}{A - B} \times 158,3 - 142,0$). Tỷ lệ tinh bột được xác định trực tiếp bằng cân Reimann theo tiêu chuẩn CIAT.

4. Khối lượng sinh khối thân lá mà các cây trồng xen trả lại cho đất sau thu hoạch là bao nhiêu?
Khối lượng thân lá cây trồng xen trả lại cho đất lần lượt là: Ngô SSC586 đạt $127,67\text{ tạ/ha}$; Lạc đỏ Bắc Giang đạt $44,17\text{ tạ/ha}$; Đậu tương ĐT22 đạt $38,53\text{ tạ/ha}$; Đậu xanh T7 đạt $24,30\text{ tạ/ha}$.

5. Mật độ và định lượng phân bón cho cây sắn và cây trồng xen trong thí nghiệm được thiết lập ra sao?
Sắn được trồng với mật độ $1\text{ m} \times 1\text{ m}$ (10.000 cây/ha). Tổng lượng phân bón cho cả sắn và cây xen trên 1 ha là: 15 tấn phân chuồng + 60 kg N + 40 kg $\text{P}_2\text{O}_5$ + 80 kg $\text{K}_2\text{O}$ (trong đó sắn nhận 10 tấn phân chuồng + 42 kg N + 12 kg $\text{P}_2\text{O}_5$ + 40 kg $\text{K}_2\text{O}$; cây xen nhận 5 tấn phân chuồng + 18 kg N + 28 kg $\text{P}_2\text{O}_5$ + 40 kg $\text{K}_2\text{O}$ + 500 kg vôi bột).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phan Thị Tình đã đánh giá toàn diện ảnh hưởng của 4 loại cây trồng xen đến sinh trưởng, năng suất và phẩm chất của giống sắn mới HL2004-28 tại Thái Nguyên thông qua phương pháp thí nghiệm đồng ruộng chuẩn tắc. Kết quả chứng minh mô hình trồng xen 2 hàng lạc đỏ Bắc Giang giữa 2 hàng sắn đạt hiệu quả kỹ thuật và nông học tối ưu, vừa duy trì năng suất củ tươi ($34,40\text{ tấn/ha}$) và hàm lượng tinh bột cao ($23,20%$), vừa thu thêm $10,13\text{ tạ/ha}$ lạc củ và trả lại cho đất $44,17\text{ tạ/ha}$ chất hữu cơ thân lá. Công trình là tài liệu thực nghiệm có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao cho việc phát triển các mô hình canh tác cây trồng cạn bền vững trên đất dốc.