phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ảnh hƣởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu ảnh hƣởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp Du lịch dịch vụ tại Việt Nam. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu ảnh hƣởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp Du lịch dịch vụ tại Việt Nam. Chƣơng 4: Hàm ý chính sách.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nhiều nghiên cứu xoay quanh vấn đề tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính cho ra những kết quả khác nhau: thuận chiều hay ngƣợc chiều. Điểm bắt đầu cho tất cả các nghiên cứu hiện đại về cấu trúc vốn của doanh nghiệp là lý thuyết M&M của Modigliani và Miller (1958 - 1963). Giả định ban đầu khi chƣa xét đến tác động của thuế Thu nhập doanh nghiệp, lý thuyết M&M cho rằng không có cơ cấu vốn tối ƣu cho doanh nghiệp. Nghĩa là, cấu trúc vốn không ảnh hƣởng đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nghiên cứu sau của Modigliani và Miller (1963), khi xem xét lại điều kiện thực tế của thị trƣờng với hiệu quả tài chính chịu ảnh hƣởng bởi thuế thu nhập doanh nghiệp, M&M cho rằng việc tăng cƣờng sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ nâng cao giá trị doanh nghiệp. Do đó, cấu trúc vốn ảnh hƣởng thuận chiều đến hiệu quả tài chính. Abor (2005) nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp của 22 doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Ghana từ năm 1998-2002 đã chỉ ra rằng có mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ suất nợ và ROE. Nghiên cứu của Weill (2007) về ảnh hƣởng của cấu trúc vốn lên hiệu quả của doanh nghiệp, đã rút ra kết luận rằng cấu trúc vốn tác động thuận chiều đến hiệu quả doanh nghiệp ở Tây Ban Nha và Italy.
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2010) về các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính: tiếp cận theo phƣơng pháp phân tích đƣờng dẫn, quan sát 428 doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, cho thấy cấu trúc tài chính có quan hệ tỷ lệ thuận với hiệu quả tài chính và có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 0. 6 Nghiên cứu của Lê Thị Mỹ Phƣơng (2017) cho thấy cấu trúc vốn có quan hệ tỷ lệ thuận với hiệu quả tài chính trong tất cả các nhóm ngành của ngành sản xuất. Có thể thấy, các doanh nghiệp trong ngành sản xuất sử dụng nợ có hiệu quả, lợi ích thu đƣợc từ việc vay nợ có thể bù đắp cho các chi phí phát sinh từ nợ. Nghiên cứu của Skopljak (2012) với các doanh nghiệp trong ngành Tài chính của Úc cho kết quả: ở mức độ nợ thấp tƣơng đối thì gia tăng tỉ lệ nợ sẽ làm tăng kết quả kinh doanh, nhƣng ở mức độ nợ cao tƣơng đối thì gia tăng tỉ lệ nợ lại làm giảm kết quả kinh doanh, nghĩa là tồn tại một cơ cấu vốn tối ƣu nhất mà ở đó mang lại kết quả kinh doanh tốt nhất.
Bên cạnh những nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính là thuận chiều, cũng có những nghiên cứu khác cho kết quả ngƣợc lại. Nghiên cứu của Gleason và Mathur (2000) cho thấy cấu trúc vốn tỷ lệ nghịch với hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, nên đòn bẩy tài chính cao sẽ làm giảm hiệu quả của doanh nghiệp. Các nghiên cứu thực nghiệm của Pendey (2001), Huang và Song (2002), Braduri (2002) ở các nƣớc có nền kinh tế chuyển đổi cho thấy hiệu quả kinh doanh có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với tỉ suất nợ. Nghiên cứu của R.
Zeitun và Tian (2007) sử dụng dữ liệu của 167 công ty từ năm 1989 đến 2003, đã chứng minh cấu trúc vốn của doanh nghiệp có tác động tiêu cực đến các chỉ số hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Majumdar và Chhibber (1997) cùng với Rao, M-Yahyaee và Syed (2007) nghiên cứu mối quan hệ nghịch biến giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động, chỉ ra tính thanh khoản, số năm hoạt động và cƣờng độ vốn ảnh hƣởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động. 7 Nghiên cứu của Ong Tze San và Teh Boon Heng Dr (2011) về 49 doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng ở Malaysia trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2008 cho thấy: tỉ suất nợ trên vốn chủ sở hữu có tác động tỷ lệ nghịch đến lợi nhuận trên mỗi cổ phần. Nghiên cứu của Hasan, Ahsan, Rahaman và Alam (2014) cho biết cấu trúc vốn ảnh hƣởng ngƣợc chiều lên khả năng sinh lời trên tổng tài sản (ROA).
Nghiên cứu của Odongo Kodongo và các cộng sự (2014) về mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết tại Kenya trong giai đoạn từ năm 2002 đến 2011, cho thấy đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lợi của các công ty niêm yết tại Kenya. Nghiên cứu của Trịnh Thị Trinh, Lê Phƣơng Dung (2012) về cấu trúc tài chính và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ở Việt Nam, dựa trên dữ liệu của 31 doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, cho thấy cấu trúc tài chính tác động tỷ lệ nghịch đến ROE. Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phúc (2014) về ảnh hƣởng của cấu trúc vốn lên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sau cổ phần hóa cho thấy mối quan hệ ngƣợc chiều giữa cấu trúc vốn và kết quả kinh doanh với mức ý nghĩa 1%. Nghiên cứu của Phan Thanh Hiệp (2016) về ảnh hƣởng của cấu trúc vốn đến kết quả kinh doanh của 95 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam từ năm 2007 đến 2013, cho thấy mối quan hệ ngƣợc chiều giữa cấu trúc vốn và kết quả kinh doanh.
Nhƣ vậy, các nghiên cứu trƣớc cho thấy sự không thống nhất trong xu hƣớng tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính. Điều này cho thấy, sự ảnh hƣởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính phụ thuộc vào tỷ lệ nợ đối 8 với mỗi nhóm ngành nghiên cứu. Mặt khác, một số nghiên cứu trƣớc đây sử dụng phần mềm Eview nên chƣa kiểm định đƣợc các khuyết tật của mô hình nghiên cứu, nhằm đƣa ra mô hình tối ƣu nhất. Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về sự ảnh hƣởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung cũng nhƣ các nhóm ngành Việt Nam nói riêng.
Tuy nhiên, đối với ngành Du lịch dịch vụ, chƣa có nghiên cứu cụ thể về vấn đề này. Nghiên cứu này sử dụng phần mềm STATA để đảm bảo việc lựa chọn mô hình tối ƣu nhất, khắc phục đƣợc những hạn chế trong việc kiểm định khuyết tật mô hình, thông qua đó xác định đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả tài chính, đặc biệt là sự ảnh hƣởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ẢNH HƢỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH 1.
Khái niệm tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là hoạt động liên quan đến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó để tài trợ cho việc đầu tƣ vào tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu đề ra. Nhƣ vậy, tài chính doanh nghiệp liên quan đến ba loại quyết định chính: quyết định đầu tƣ, quyết định nguồn vốn, và quyết định phân phối lợi nhuận nhằm đạt mục tiêu đề ra là tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu doanh nghiệp. Bản chất của tài chính doanh nghiệp: tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh gắn liền với việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các doanh nghiệp để phục vụ và giám đốc quá trình sản xuất kinh doanh. Chức năng của tài chính doanh nghiệp: tổ chức vốn (tạo vốn bảo đảm thỏa mãn nhu cầu vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp) và luân chuyển vốn; phân phối thu nhập bằng tiền; giám đốc (kiểm tra).
Vai trò của tài chính doanh nghiệp: đảm bảo đủ nguồn vốn cho doanh nghiệp hoạt động; huy động vốn với chi phí thấp nhất; sử dụng có hiệu quả các nguồn tài trợ; giám sát và hƣớng dẫn các hoạt động, chi tiêu phù hợp với tình hình tài chính doanh nghiệp. Mục tiêu quản trị tài chính doanh nghiệp: tối đa hóa lợi nhuận sau thuế, tối đa hóa lợi nhuận phân phối cho chủ sở hữu, tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Cấu trúc vốn doanh nghiệp a. Khái niệm Cấu trúc vốn thƣờng đi kèm với thuật ngữ cấu trúc tài chính.
Cả hai thuật ngữ đều sử dụng để phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa các khoản nợ và vốn chủ sở hữu. Theo Bertoneche và Teulie: “Cấu trúc tài chính doanh nghiệp là quan hệ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu phục vụ cho quá trình tài trợ của doanh nghiệp, còn cấu trúc vốn đƣợc hiểu là quan hệ tỷ lệ giữa nợ trung dài hạn và vốn chủ sở hữu”. Nhƣ vậy, cấu trúc tài chính bao gồm cả cấu trúc vốn. Theo Trần Ngọc Thơ, “Cấu trúc vốn là sự kết hợp số lƣợng nợ ngắn hạn thƣờng xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ƣu đãi và vốn cổ phần thƣờng đƣợc dùng để tài trợ cho quyết định đầu tƣ của một doanh nghiệp.
Ngƣợc lại, cấu trúc tài chính là sự kết hợp nợ vay ngắn hạn, nợ dài hạn, cổ phần ƣu đãi và vốn cổ phần thƣờng đƣợc dùng để tài trợ cho quyết định đầu tƣ của một doanh nghiệp”. Theo Bùi Hữu Phƣớc (2009), “Cơ cấu vốn gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nợ trung, dài hạn thể hiện nguồn tài trợ thƣờng xuyên, doanh nghiệp có thể an tâm sử dụng trong thời gian tƣơng đối dài không phải lo chi trả. Tuy nhiên, nguồn tài trợ từ nợ tích lũy là nguồn tài trợ ngắn hạn nhƣng có thể xem nhƣ nguồn thƣờng xuyên. Vì thế, cơ cấu vốn của doanh nghiệp bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu, nợ trung hạn, nợ dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn thƣờng xuyên”.
Ở Việt Nam, nguồn tài trợ từ nợ ngắn hạn tại các doanh nghiệp trong ngành Du lịch dịch vụ mang tính chất thƣờng xuyên.