NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BÀI TOÁN VỀ AN TOÀN THÔNG TIN TRONG CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ MỤC LỤC BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN. TỔNG QUAN VỀ “CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ”. Khái niệm “Chính phủ điện tử”.
Các giao dịch trong “ Chính phủ điện tử”. Các dịch vụ công:. Tiếp cận thông tin. Sự tương tác giữa Chính phủ và công chúng:.
TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN THÔNG TIN. Một số khái niệm trong an toàn thông tin. Nén thông tin. Các phƣơng pháp bảo đảm an toàn thông tin.
Vấn đề bảo đảm An toàn thông tin. Phương pháp bảo đảm An toàn thông tin .Công cụ bảo đảm An toàn thông tin. MỘT SỐ BÀI TOÁN VỀ AN TOÀN THÔNG TIN TRONG GIAO DỊCH TRỰC TUYẾN. TỔNG QUAN VỀ GIAO DỊCH TRỰC TUYẾN.
Giao dịch trực tuyến cấp độ 1. Giao dịch trực tuyến cấp độ 2. Giao dịch trực tuyến cấp độ 3. Giao dịch trực tuyến cấp độ 4.
BÀI TOÁN BẢO MẬT THÔNG TIN. Bài toán bảo mật thông tin. Phƣơng pháp giải quyết bài toán bảo mật thông tin. BÀI TOÁN BẢO TOÀN THÔNG TIN.
Bài toán bảo toàn thông tin. Phƣơng pháp giải quyết bài toán bảo toàn thông tin. BÀI TOÁN XÁC THỰC THÔNG TIN. Bài toán bảo toàn thông tin.
Phƣơng pháp giải quyết bài toán bảo toàn thông tin. THỬ NGHIỆM CHƢƠNG TRÌNH BẢO ĐẢM ATTT. CẤU HÌNH HỆ THỐNG. CÁC THÀNH PHẦN CỦA CHƢƠNG TRÌNH.
HƢỚNG DẪN SỬ DỤNG CHƢƠNG TRÌNH. 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO. BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Giải thích CERT (Computer Emegency Respone Đội cấp cứu máy tính Team) PKI (Public Key Infrastructure) Hạ tầng cơ sở mật mã khóa công khai VNP (Virtual Private Network) Mạng riêng ảo CNTT Công nghệ thông tin CPĐT Chính phủ điện tử CNTT-TT Công nghệ thông tin-Truyền thông G2C (Government To Citizen) Chính phủ với công dân G2B (Government To Business) Chính phủ với doanh nghiệp G2E (Government To Employee) Chính phủ với ngƣời lao động G2G (Government To Goverment) Chính phủ với Chính phủ KV Khu vực. LỜI CẢM ƠN Ngƣời xƣa có câu: “Uống nƣớc nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.
Với em sinh viên khoá 11 của trƣờng Đại Học Dân Lập Hải Phòng luôn luôn ghi nhớ những công lao to lớn của các thầy giáo, cô giáo. Những ngƣời đã dẫn dắt chúng em từ khi mới bƣớc chân vào giảng đƣờng đại học những kiến thức, năng lực và đạo đức chuẩn bị hành trang bƣớc vào cuộc sống để xây dựng đất nƣớc khi ra trƣờng sau 4 năm học. Em xin hứa sẽ lao động hết mình đem những kiến thức học đƣợc phục vụ cho Tổ quốc. Em xin chân thành cảm ơn đến: Cha, mẹ ngƣời đã sinh thành và dƣỡng dục con, hỗ trợ mọi điều kiện về vật chất và tinh thần cho con trên con đƣờng học tập lòng biết ơn sâu sắc nhất.
Thầy cô của trƣờng và các thầy cô trong Ban giám hiệu, thầy cô trong Bộ môn CNTT của trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện cho chúng em học tập trong suốt thời gian học tập tại trƣờng. Thầy Trịnh Nhật Tiến– Giáo viên hƣớng dẫn đồ án tốt nghiệp đã tận tình, hết lòng hƣớng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này. Em mong thầy luôn luôn mạnh khoẻ để nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực cho đất nƣớc. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn.
Hải Phòng, ngày. năm 2011 Sinh viên thực hiện Ngô Thị Loan. GIỚI THIỆU Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) đang là xu thế tất yếu hiện nay. Để thúc đẩy hoạt động này, Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trƣờng và điều kiện thuận lợi cho các Bộ, ngành, địa phƣơng và toàn xã hội triển khai có hiệu quả các hoạt động ứng dụng CNTT.
Hƣớng tới “Chính phủ điện tử” (CPĐT), càng trở nên cần thiết xuất phát từ các yếu tố sau: Thứ nhất là: Đối tƣợng quản lý của Bộ, ngành rộng, số lƣợng các đối tƣợng đều rất lớn, và thuộc nhiều lĩnh vực. Tất cả đối tƣợng này đều rải rác từ cơ sở. Để làm tốt công tác tham mƣu cho chính phủ và đƣa ra định hƣớng, những quyết định đúng đắn và nhanh nhất…… Bộ phải nắm bắt đƣợc các con số đầy đủ, kịp thời và chính xác. Vì vậy việc triển khai ứng dụng mạnh mẽ CNTT là đòi hỏi tất yếu và khách quan.
Cơ chế, chính sách do Bộ xây dựng, tham mƣu, đề xuất với Chính phủ thƣờng có liên quan mật thiết đến ngƣời dân, ngƣời lao động và toàn xã hội do vậy, cần phải có một hệ thống dữ liệu kịp thời, đầy đủ và chính xác. Để có đƣợc hệ thống dữ liệu nhƣ vậy, cần ứng dụng tối đa CNTT trong các khâu thu thập, cập nhật, xử lý, cung cấp thông tin…. Thứ hai là: Khối lƣợng công việc cần xử lý của Bộ, ngành ngày càng nhiều, việc ứng dụng CNTT sẽ mang lại hiểu quả thiết thực trong quản lý tiến độ công việc, góp phần cải cách hành chính, giảm bớt chi phí về nhân lực, tài lực, đồng thời nâng cao chất lƣợng công tác chuyên môn. Thứ ba là: Ứng dụng CNTT giúp công tác truyền tải văn bản, thông tin chỉ đạo điều hành, dữ liệu… của Bộ đến cơ sở đƣợc kịp thời, thông suốt.
Không những thế, ứng dụng CNTT cũng giúp Bộ, ngành chuyển tải đƣợc nhiều nội dung thông tin hơn, hình thức cung cấp thông tin cũng phong phú hơn, ngoài thông tin dƣới dạng chữ còn có thông tin hình ảnh và âm thanh…Hình thức cung cấp thông tin nhƣ vậy sẽ giúp ngƣời dân ngày càng hiểu rõ hơn chính sách liên quan đến lĩnh vực quản lý của Bộ, ngành. Để có đƣợc các thông tin chính xác nhất, thì An toàn thông tin là vấn đề rất quan trọng cần đƣợc chú trọng quan tâm. Và cần áp dụng các công nghệ phù hợp để đảm bảo đƣợc thông tin truyền/ nhận là đúng đắn nhất có thể. Theo quan niệm của chúng tôi, khái niệm “chính quyền điện tử” có nghĩa rộng hơn khái niệm “chính phủ điện tử”.
Với “chính quyền điện tử”, sẽ dễ hiểu rằng không chỉ có giao dịch với chính phủ trung ƣơng, mà còn có giao dịch với chính quyền địa phƣơng (ở mọi cấp). CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.TỔNG QUAN VỀ “CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ” 1. Khái niệm “Chính phủ điện tử” “Chính phủ điện tử” (CPĐT) là Chính phủ ứng dụng Công nghệ thông tin - truyền thông để các cơ quan Chính phủ đổi mới tổ chức, đổi mới các quy trình hoạt động, tăng cƣờng năng lực của Chính phủ, làm cho Chính phủ làm việc hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn, cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn cho ngƣời dân, doanh nghiệp và các tổ chức, tạo điều kiện thuận lợi cho ngƣời dân thực hiện quyền dân chủ và tham gia quản lý Nhà nƣớc. Nói một cách ngắn gọn: CPĐT là Chính phủ hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, cung cấp dịch vụ tốt hơn trên cơ sở ứng dụng CNTT – TT.
CPĐT là một hệ thống thông tin hỗ trợ công tác quản lý, điều hành của Chính phủ một cách hiệu quả. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều định nghĩa về CPĐT: Cách tiếp cận 1: Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới (World Bank) “CPĐT là việc các cơ quan Chính phủ sử dụng một cách có hệ thống công nghệ thông tin và viễn thông để thực hiện các quan hệ với công dân, với doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Nhờ đó, giao dịch của các cơ quan Chính phủ với công dân và các tổ chức sẽ đƣợc cải thiện, nâng cao chất lƣợng. Lợi ích thu đƣợc sẽ là giảm thiểu tham nhũng, tăng cƣờng tính công khai, sự tiện lợi, góp phần vào sự tăng trƣởng giảm chi phí ”.
Với cách tiếp cận này, CPĐT bao hàm 3 yếu tố: - Ứng dụng CNTT và truyền thông - Nhằm cải thiện giao dịch giữa Nhà nƣớc với công dân và doanh nghiệp - Giảm chi phí và bớt tham nhũng thông qua tăng cƣờng công khai, minh bạch. Cách tiếp cận 2 : CPĐT là sự tối ƣu hóa liên tục việc chuyển giao các dịch vụ, sự tham gia của các thành phần và quản lý của Nhà nƣớc bớt việc chuyển đổi các quan hệ bên trong và bên ngoài thông qua công nghệ, Internet và các phƣơng tiện mới. Các thành phần bên ngoài ở đây chỉ các dịch vụ trực tuyến (Online Service) đối với công dân hay doanh nghiệp, còn quan hệ bên trong để chỉ các hoạt động của Chính phủ (Government Operations) từ các công thức của bộ máy nhà nƣớc. CPĐT là một “Chính phủ vận hành trực tuyến” (Government OnLine-GOL) Hay Chính phủ 24x7 , thậm chí 24x365.
Một điểm cơ bản của CPĐT là khả năng sử dụng các công nghệ mới nhƣ hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin, mạng máy tính và cao nhất là Internet làm nền tảng cho việc quản lý và vận hành của bộ máy Nhà nƣớc nhằm cung cấp các “dịch vụ” cho toàn xã hội. Trong xã hội thông tin hiện nay, quá trình hoạt động và quản lý từ cấp cao nhất đến cơ sở cần phải đƣợc dựa trên các hệ thống tập hợp, lƣu trữ, xử lý, sử dụng và khai thác thông tin có hiệu quả để cai quản và điều hành vĩ mô mọi hoạt động của nền kinh tế toàn xã hội. Tốc độ phát triển mạnh mẽ nhƣ vũ bão của Internet hiện nay (đặc biệt tại các nƣớc phát triển) đã và đang là động lực làm thay đổi cách thức kinh doanh và vận hành doanh nghiệp và cũng là nhân tố tích cực cho việc hình thành và phát triển CPĐT, để trở thành một hệ thống hiệu quả hơn và phục vụ tốt hơn. Cách tiếp cận 3: CPĐT là hệ thống thông tin đặc biệt nhằm Kết nối các cơ quan của Chính phủ trong các hoạt động, cung cấp, cung cấp, chia sẻ thông tin và phối hợp cung cấp giá trị tốt nhất trong việc cung ứng các dịch công với chất lƣợng tốt nhất, phƣơng thức mới nhất trên môi trƣờng điện tử.
Xây dựng và hình thành cổng điện tử của các cơ quan hành chính địa phƣơng, cung cấp thông tin cho mọi ngƣời dân về những công việc của cơ quan hành chính, các quy định và thủ tục, dịch vụ mà cơ quan hành chính cung cấp cho nhu cầu của ngƣời dân. Coi “công dân” là “khách hàng”: thay đổi cách tiếp cận về quan hệ giữa công dân với Chính phủ, từ quan hệ “xin-cho” thành quan hệ “ phục vụ, cung ứng dịch vụ”. Khách hàng là công dân có nhiều khả năng lựa chọn dịch vụ tốt nhất cho cuộc sống. Việc cung ứng các sản phẩm.