Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Dẫn đề Để có một cái nhìn tổng quát về tình hình nghiên cứu ADYN và ADYN về người phụ nữ, chúng tôi tổng hợp và hệ thống hoá các giáo trình, chuyên khảo, luận án, bài báo khoa học và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu. Nội dung phần tổng quan được sắp xếp theo trình tự thời gian và theo vấn đề nghiên cứu nhằm làm nổi bật sự thay đổi trong cách nhìn nhận và nghiên cứu về bản chất ẩn dụ.
Chúng tôi phân tích các nghiên cứu này từ khái quát đến cụ thể, từ cái chung đến cái riêng, bắt đầu từ việc tổng quan các công trình nghiên cứu về ADYN nói chung, từ đó khai thác các nghiên cứu về ẩn dụ về người phụ nữ trong cả ngôn ngữ ở nước ngoài lẫn trong nước. Từ đây, chúng tôi tìm ra các khoảng trống nghiên cứu mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến, qua đó thiết lập cơ sở lý luận và thực tiễn cho luận án. Tổng quan về ẩn dụ ý niệm 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về ẩn dụ ý niệm Về những phát triển trong lý thuyết ẩn dụ, trải qua nhiều năm, lý thuyết về ẩn dụ ngày càng phát triển và đi vào chiều sâu, từ đó khắc hoạ một bức tranh ngày càng rõ nét về việc ẩn dụ cấu trúc tư duy như thế nào.
Trước hết lý thuyết tri nhận về ẩn dụ bắt nguồn từ Lakoff giúp cho danh tiếng của ông vượt ra ngoài phạm vi thuần tuý ngôn ngữ học và thổi một luồng gió mới cho việc phát triển lý thuyết ẩn dụ. Năm 1980, Lakoff và Johnson [137] đã xuất bản quyển “Metaphors we live by” (Chúng ta sống bằng ẩn dụ) – quyển sách trình bày về lý thuyết ADYN và được xem là xương sống cho rất nhiều nghiên cứu về ẩn dụ sau này. Hai ông đã nhìn nhận và nghiên cứu ẩn dụ thông qua các lĩnh vực kinh nghiệm. Họ cho rằng ẩn dụ là hiện tượng tri nhận hơn là hiện tượng ngôn ngữ và những BTAD tiếng Anh bắt gặp trong ngôn ngữ chính là cái phản ánh các ẩn dụ tồn tại ở các bậc tầng ý niệm.
Như vậy bản chất và chức năng của NNHTN nói chung và ẩn dụ tri nhận nói riêng là nghiên cứu cách con người nhìn nhận và đánh giá thế giới qua lăng kính ngôn ngữ và văn hoá dân tộc [126], [127], [128], [130]. Một tiến bộ quan trọng trong lý thuyết ẩn dụ là nghiên cứu ADYN chỉ ra rằng kinh nghiệm hàng ngày, kinh nghiệm cảm giác của con người là cơ sở đưa ra các đánh giá chủ quan của nhận thức ngôn ngữ [107], [108]. Các nhà tri nhận học như Lakoff, Johnson và Turner có nhiều mới lạ trong tư tưởng khi phát hiện ra ý niệm tổng quát ẩn sau những phát ngôn ẩn dụ khác nhau. Nói cách khác, các ông đi tìm những ý niệm tổng quát thông qua cách hệ thống hóa những ý niệm đặc thù.
Thay vì tìm cách giải thích các ý niệm chứa đựng trong mỗi ẩn dụ (nghĩa là trong mỗi diễn đạt ngôn ngữ), vốn là nền tảng cho sự xuất hiện của chúng, các ông đã tìm 7 ra nguồn gốc của sự dịch chuyển nghĩa trong ẩn dụ, đó chính là ánh xạ xuyên lãnh vực. Tiếp theo đó, nhiều công trình nghiên cứu quan trọng về ADYN dần được các nhà ngôn ngữ học thực hiện và phát triển. Fauconnier [94] đã phát triển lý thuyết về không gian tinh thần để khảo sát các quá trình kết cấu nghĩa. Năm 1996, Fauconnier và Sweetser [95] đã biên soạn và tổng hợp 12 bài viết nhằm mở rộng khung không gian tinh thần trong “Spaces, Worlds and Grammar”.
Sau đó, Fauconnier kết hợp với Turner [96] để phát triển lý thuyết này thành lý thuyết về sự pha trộn ý niệm, từ đó phân tích quá trình hình thành một số hỗn dụ. Nội dung quan yếu của lý thuyết này là việc xây dựng nghĩa thường gắn với sự hợp nhất cấu trúc. Các nhà lý luận về pha trộn cho rằng quá trình pha trộn ý niệm là một hoạt động tri nhận cơ bản và chung, đóng vai trò trung tâm trong cách chúng ta tư duy và tưởng tượng. Grady, Oakley và Coulson [111] cũng cho rằng lý thuyết Pha trộn ý niệm và lý thuyết ADYN bổ sung (complementary) cho nhau hơn là cạnh tranh và loại trừ nhau.
Ngoài tính chất bổ sung, Evans và Green [93] cũng cho rằng hai lý thuyết này đề cập đến các hiện tượng nhất định không được giải thích bởi lý thuyết còn lại. Ví dụ lý thuyết Pha trộn miêu tả về cấu trúc nổi bật (emergent structure) - nghĩa khác lạ (novel meaning): nghĩa không chỉ đơn thuần là nghĩa tổng thể của các bộ phận cấu thành nó, trong khi lý thuyết ADYN thì không. Nguyên nhân là do lý thuyết ADYN dựa vào mô hình 2 miền (2 - domain model). Fauconnier và Turner [96] cho rằng khả năng của con người trong việc pha trộn hoặc hợp nhất ý niệm có thể là cơ chế chính tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các hành vi cao cấp của con người, những hành vi phụ thuộc vào khả năng biểu tượng phức tạp.
Những hành vi này bao gồm các lễ nghi, sản xuất, nghệ thuật, sử dụng công cụ và ngôn ngữ. Về các ứng dụng của lý thuyết ẩn dụ, những năm gần đây, các nghiên cứu về tri nhận nói chung và ADYN nói riêng có chiều hướng chú trọng tính ứng dụng. Nói về tính ứng dụng của ADYN, theo Croft và Cruse [87], mục đích chính của Lakoff trong việc phát triển lý thuyết ADYN là tìm hiểu các ánh xạ giữa hai miền nguồn và đích và lý giải thông qua lý lẽ và hành vi của con người, từ đó ứng dụng lý thuyết này vào các lĩnh vực cụ thể. Bản thân Lakoff và Johnson luôn cố gắng hoàn thiện học thuyết ẩn dụ tri nhận của mình và mở rộng phạm vi ứng dụng học thuyết này sang nhiều lĩnh vực khác nhau.
Đến nay, lý thuyết ADYN đã được sử dụng trong các lĩnh vực như văn học [103], [140], [176], [177], triết học [119], [138], toán học [139], chính trị [84], [132], [134], [135], kinh tế [78], [113], giáo dục [144], đạo đức [120], tôn giáo [165], pháp luật [181], [182], quảng cáo [151] và diễn ngôn truyền thông [153] hay về các đối tượng tri nhận như cảm xúc [91], [123], [124], [125], [126], [148], điệu bộ cử chỉ [86], sự thay đổi ngữ nghĩa [169], cơ thể người [119], âm nhạc [185], nghệ thuật [121], đồ ăn [74], tình yêu [147], tình dục [179] với sự đa dạng trong ngữ liệu nghiên cứu. 8 Cụ thể, trong lĩnh vực văn học, Lakoff và Turner [140] đã cho thấy ADYN là vấn đề trung tâm được sử dụng trong tục ngữ hay văn học. Năm 1996, Turner [177] đã chứng minh ADYN là yếu tố quan trọng trong việc sáng tác các truyện ngụ ngôn và các sản phẩm phổ biến khác của trí tưởng tượng văn học. Lĩnh vực chính trị và luật pháp cũng ghi nhận những ứng dụng quan trọng của lý thuyết ADYN.
Winter [183] nêu bật vai trò quan trọng của ẩn dụ trong lập luận pháp lý, theo đó ẩn dụ trở thành một công cụ pháp lý quyền lực trong đời sống xã hội. Năm 1992, Lakoff [132] phân tích cách chính phủ Mỹ sử dụng ẩn dụ để thuyết phục nhân dân về cuộc chiến vùng Vịnh, đồng thời làm rõ vai trò của ADYN trong việc hoạch định các chính sách ngoại giao. Một lĩnh vực dường như rất cụ thể, không mang tính nghiệm thân là toán học cũng được Lakoff và Núñez [139] chứng minh rằng hoàn toàn mang tính ẩn dụ với các ẩn dụ như CON SỐ LÀ CÁC ĐIỂM TRÊN ĐƯỜNG THẲNG hay CON SỐ LÀ NHỮNG TẬP HỢP. Hai ông đã tiến hành một nghiên cứu lớn về cấu trúc ẩn dụ của toán học bao gồm số học, lý thuyết tập hợp và logic, hình thức, vô hạn, và cuối cùng là toán học cao cấp cổ điển.
Ngôn ngữ học tri nhận sử dụng lý thuyết ẩn dụ để lý giải các khía cạnh của ngôn ngữ với các nghiên cứu chính về cách ngôn ngữ cấu trúc không gian [173], không gian và tri nhận không gian [77], ngữ pháp tri nhận [141], [142], [143], ngữ pháp cấu trúc tri nhận [105], [106]), ngữ nghĩa khung [97], [98], [99], [100], [170], ngữ nghĩa học ý niệm [116], [117], [118], [174]. Đối tượng tri nhận được nhiều nhà tri nhận học quan tâm là vấn đề tình cảm của con người bởi đó là vấn đề thường nhật nhất, gần gũi nhất của mỗi con người. Nghiên cứu nổi bật gần đây của Esenova [91] đề cập đến 3 miền đích cùng lúc nên có thể miêu tả các trải nghiệm tình cảm phức tạp, trong đó một số yếu tố cảm xúc xảy ra đồng thời. Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng khi so sánh với các nghiên cứu về NNHTN trước đây, hầu hết các ẩn dụ ý niệm về cảm xúc đều ổn định theo thời gian.
Bên cạnh đó, các biểu thức phi ngôn từ như cử chỉ hay hình ảnh nghệ thuật cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của NNHTN. Theo Cienki [86], các cử chỉ mang tính ẩn dụ có thể thực sự liên quan đến lời nói theo nhiều cách khác nhau và thay đổi cũng như nhất quán giữa các nền văn hóa. Cử chỉ cung cấp một góc nhìn để hiểu cách chúng ta cấu trúc ý niệm và cách chúng ta sử dụng các cấu trúc đó trong khi nói. Cử chỉ có thể chỉ ra rằng ẩn dụ ý niệm cũng được kích hoạt về mặt nhận thức khi không được diễn đạt thành lời nói.
Kennedy [121] khẳng định rằng ẩn dụ có rất nhiều trong nghệ thuật và thực tế là các hình ảnh có thể mang tính ẩn dụ. Các hình ảnh cũng được sử dụng một cách ẩn dụ, tạo ra ẩn dụ đơn thức (ẩn dụ hình ảnh “pictorial metaphor”) trong quảng cáo. Forceville (trong Gibbs [102]) minh chứng điều này qua một số ẩn dụ hình ảnh như TÓC ÓNG MƯỢT LÀ KEM (HAIR SILK IS ICECREAM) trong quảng cáo dầu gội Dove hay MÁY PHA CÀ-PHÊ LÀ NGƯỜI PHỤC VỤ (COFFEE MACHINE IS SERVANT) trong quảng cáo máy pha cà phê 9 Philips’ Senseo. Mặc dù gần đây có một số hướng nghiên cứu khai thác các hạn chế trong thuyết ADYN, chẳng hạn thuyết này không đề cập đến bản chất phụ thuộc vào ngữ cảnh hay lệ thuộc ngôn cảnh của ẩn dụ (context-sensitive nature) [146], [168], khó có thể phủ nhận rằng thuyết ADYN có rất nhiều ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống.
Các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau cho thấy ADYN được sử dụng nhiều trong các diễn ngôn pháp luật, văn chương, chính trị, tâm lý học, toán học, v.