mở đầu của hướng tiếp cận tri nhận 1. Thuyết so sánh của Aristotle 21 Ở phương Tây, Aristotle được xem là nhà tư tưởng đưa ra một lý thuyết có hệ thống về ẩn dụ sớm nhất. Trong tác phấm Thi học (khoảng năm 350 trước Công nguyên), Aristotle mô tả ẩn dụ như dấu hiệu của sự tinh thông tuyệt đối về ngôn ngữ, và do đó là dấu hiệu của một kiểu tài năng. Ông viết: "Nó là một thứ không thể học được từ người khác, và cũng là dâu hiệu của tài năng đặc biệt, bởi một ẩn dụ hay hàm ý một năng lực trực giác về tính tương đồng ở những đối tượng không giống nhau" [dẫn theo 95.
Quan trọng hơn, Aristotle nhấn mạnh việc sử dụng ẩn dụ trong thi ca. Ông không xem ẩn dụ như một phần không thể thiếu đối với sự hành chức của ngôn ngữ mà là một kiểu loại trang sức, đặc biệt được sử dụng trong thuật hùng biện. Ông cũng định nghĩa ẩn dụ là "cấp cho một đối tượng một cái tên thuộc về một đối tượng khác, sự chuyển đổi này đi từ giống (aenus) xuống loài (species), hay từ loài sang giống, hay từ loài sang loài, trên những cơ sở của phép loại suy" [dẫn theo 95, tr. Ý tưởng chi phối quan điểm trình bày ở trên là mọi sự vật hiện tượng trong tự nhiên đều có tên gọi riêng cho mình, và ẩn dụ vi phạm quy luật này khi các tên gọi được chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác qua các tương đồng ở thuộc tính.
Cũng theo Aristotle, ẩn dụ gây cho người tiếp nhận cảm giác về "cái gì đó bất thơởng, nằm ngoài biên giới thông thơởng của ngôn ngữ, và điều này có thể giúp làm sâu sắc kinh nghiệm của người đọc, mang lại một sự hiểu biết phong phú bất ngờ về thế giới" [95, tr. Kittay, trong Tu từ (Rhetoric), Aristollc phát biểu lý thuyết So sánh tỉnh lược (Elliptical simile) của ấn dụ. Ở đó "một ẩn dụ được xem nlnr một so sánh rút gọn bằng việc bỏ bớt từ 'như' (like)" [88. Encyclopcedia Britannica viết: "ẩn dụ [là một] biện pháp tu từ hàm ý sự so sánh giữa hay thực thể tách biệt, phân biệt với tỷ dụ là một sự so sánh hiển ngôn được đánh dấu bởi các từ 'như' (like), ‘giống như’ (as)" [61].
Ta có thể hiểu rằng từ ngữ được dùng một cách ẩn dụ để đạt được một hiệu ứng nghệ thuật và tu từ nào đó, bởi "ta nói và viết theo lối ẩn dụ để giao tiếp với nhau một cách thuyết phục hơn, đế gây ấn tượng với người khác với các từ ngữ "đẹp đẽ", mang lại sự thoả mãn về thẩm mỹ hay để biểu hiện một cảm xúc sâu sắc nào đó" [80. Như thể, theo truyền thống, ẩn dụ được hiểu như một biện pháp tu từ, một công cụ dùng trong phong cách tu từ. Đây là một quan điểm được chia sẽ rộng rãi cả trong giới học thuật lẫn trong nhận thức phổ thông của cộng đồng, ngôn ngữ. Trong một khoảng thời gian dài nó được xem là một biện pháp xuất sắc để nhà văn bộc lộ tính sáng tạo cá nhân.
Hệ quả 22 của quan điểm này là cho đến thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu ârn dụ chỉ được giới hạn chủ yếu ở các ẩn dụ văn chương (literary metaphor). Thuyết tưong tác của LA. Black Trong thế kỷ XX, các quan điểm mới về ẩn dụ cũng dần dần xuất hiện, nhấn mạnh vào sự phân tích các ẩn dụ của ngôn ngữ thơởng ngày. Một số biểu thức ngôn ngữ từng không được xem là hàm chứa tính ẩn dụ bởi các lý thuyết truyền thống thì nay đã được quan tâm tìm hiểu.
Những học giả như LA. Richards (1936) đã mô tả ẩn dụ như nguyên lý (principle) nền tảng của ngôn ngữ mà ta không thể tránh khỏi việc sử dụng trong ngôn ngữ thơởng ngày. Trong The Philosophy of Rhetoric, ông viết: "Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta dùng rơi nhiều ẩn dụ. trong giao tiếp thì bình quân cứ ba câu xuất hiện một ẩn dụ.] Tư duy của con người có tính ẩn dụ, nó được tiến hành thông qua so sánh [.
Richards xác định ẩn dụ như "sự biểu thị một tư tưởng (concepl) - tức đối tượng (tenor) - thông qua một từ ngữ - tức phương tiện (vehicle) - là cái mà nếu đứng độc lập sẽ chuyển tải một tư tưởng khác" [94. Trọng tâm tư tưởng của ông là khi sử dụng ẩn dụ, con người đặt các tư tưởng biểu thị hai sự vật lại với nhau. Hai tư tưởng này sẽ tương tác với nhau theo cách khuyến khích người tiếp nhận "tìm ra các quan hệ" [96, tr. 89] giữa chúng, từ đó mở ra ý nghĩa của ẩn dụ.
Như thế, trái với lý luận truyền thống chỉ dùng thuật ngữ ẩn dụ để chỉ đến sự chuyển đi và thay thế các từ ngữ, Richards cho ẩn dụ về bản chất là sự giao tiếp và mượn tư tưởng. Dựa trên công trình của Richards, M. 1979) đề xuất lý thuyết Tương tác (Interaction theory), nhấn mạnh lên quan điểm tương tác của ẩn dụ. Trong More about Metaphor (1979), Black tóm lắt toàn bộ quan điểm của mình như sau: 1.
Một biểu thức mang tính ẩn dụ có hai đối tượng phân biệt nhau, gọi là chủ thể 'chính' (primary) và chủ thể 'phụ' (secondary). Chủ thể phụ được xem là một hệ thống chứ không phải một yếu tố riêng biệt. Phát ngôn mạng tính ẩn dụ được tạo ra bằng việc 'phóng chiếu' một lập hợp các 'hàm chi liên quan' (associated implication) lên chủ thể chính, được bao hàm trong hợp thể hàm chỉ (implicative complex), là phần có thể đoán trước của chủ thể phụ. Người tạo ra biểu thức ẩn dụ lựa chọn, nhấn mạnh, loại trừ, tổ chức các đặc điểm của chủ thể chính bằng việc áp lên nó các biểu thức đẳng cấu (isomorphic) với các thành viên của hợp thể hàm chỉ trong chủ thể phụ.
Trong bối cảnh của một biểu thức ẩn dụ cụ thể, hai chủ thể 'tương tác' theo nlnrng cách như sau: (a) sự có mặt của chủ thể chính khuyến khích người nghe chọn lấy một số các thuộc tính của chủ thể phụ: (h) khiến cho người nghe cấu trúc nên một hợp thể hàm chỉ song song (parallel implication-complex) thích hợp với chủ thể chính; và (c) gây ra các biến đổi mang tính tương hỗ trong chủ thể phụ. 28-29] Lý thuyết tương tác, như thế, có một số đóng góp quan trọng cho công tác nghiên cứu ẩn dụ. Thứ nhất, nó mở rộng tầm giải thích về bản chất ẩn dụ, coi ẩn dụ tìm thấy trong biểu thức ngôn ngữ là xuất phát từ tư tưởng con người; đồng thời nó cũng nhấn mạnh được quá trình và phương thức sản sinh ý nghĩa ẩn dụ, đặt ẩn dụ và ngữ cảnh trong mối quan hệ mật thiết. Thứ hai, nó trở thành một bước đệm chuyển việc nghiên cứu ẩn dụ từ cấp độ ngôn ngữ lên cấp độ tư duy, mở đường cho các công trình nghiên cứu ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận.
Ẩn dụ theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận Trước Metaphors we live by (1980), quan điểm ngôn ngữ học tri nhận về ẩn dụ, như trình bày ở trên, không phải là chưa xuất hiện. Tuy thế, phải đợi đến công trình hợp tác giữa G. Johnson này thì một lý thuyết ẩn dụ dựa trên quan điểm ngôn ngữ học tri nhận mang tính toàn diện, khái quát và được kiểm tra bằng thực nghiệm mới ra đời. Trên thực tế, chính thành quả của những nhà nghiên cứu như LA.
Black đã phần nào định hình được ngôn ngữ học tri nhận như ta biết đến ngày nay. ix-x], quan điểm truyền thống về ẩn dụ có thể được mô tả vắn tắt bằng việc chỉ ra năm trong các đặc trưng được chấp nhận rộng rãi nhất của nó: (1) ẩn dụ là một thuộc tính của ngôn từ; nó tả một hiện tượng thuộc ngôn ngữ; (2) ẩn dụ được dùng cho một mục đích nghệ thuật và tu từ nào đó; (3) ẩn dụ dựa trên một tương đồng giữa hai thực thể thứ được so sánh và liên hệ với nhau; (4) ẩn dụ là một cách dùng từ ngữ có ý thức và có chủ ý, ta phải nó một tài năng đặc biệt để có thể dùng nó và dùng tốt; (5) người ta cũng thơởng cho rằng ấn dụ là một biện pháp tu từ mà ta có thể không cần dùng; ta dùng nó để cho ra các hiệu ứng đặc biệt, và nó không phải là một phần thiết yêu trong giao tiếp 24 hằng ngày của con người, chưa kể đến sự tư duy và suy lý của con người. Cũng theo Kövecses. Lakoff và Johnson đã thách thức quan điểm cực đoan sâu sắc về ẩn dụ bằng việc tuyên bố rằng: (1) ẩn dụ là một thuộc tính của các ý niệm, không phải của từ ngữ; (2) chức năng của ẩn dụ là giúp hiểu được tốt hơn các ý niệm nhất định, không chỉ với mục đích thẩm mỹ hay nghệ thuật nào đó; (3) ẩn dụ thơởng không dựa trên sự tương đồng; (4) ẩn dụ được dùng một cách không phải dụng công trong đời sống hằng ngày bởi những con người bình thơởng, không chi bởi những người tài năng; và (5) ẩn dụ không phải là một thứ trang sức gợi ra xúc cảm ngôn ngữ nhưng không cần thiết mà là một quá trình tất yếu xảy ra trong hoạt động tư duy và suy lý của con người [80.
Như vậy, theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ ý niệm là vấn đề trung tâm, cốt lõi trong nghiên cứu ẩn dụ. Và vì ở phạm vi luận văn này, chúng tôi đi vào tìm hiểu các ẩn dụ thi ca nên phần dưới đây sẽ tập trung vào hai vấn đề chính: (1) sự phân biệt giữa ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) và ẩn dụ ngôn ngữ (linguistic metaphor), nhấn mạnh vào các đặc điểm của ẩn dụ ý niệm; (2) sự phân biệt giữa ẩn dụ thông thơởng (ordinary metaphor) và ẩn dụ thi ca (poetic metaphor), nhấn mạnh vào các đặc điểm của ẩn dụ thi ca trong quan điểm ngôn ngữ học tri nhận. Ẩn dụ ý niệm và ẩn dụ ngôn ngữ a. Trong Metaphors we live by (1980).
Lakoff và Johnson khẳng định rằng mọi sự ý niệm hóa mang tính trừu tượng của ta đều dựa trên việc mở rộng theo lối ẩn dụ từ những sự ý niệm hóa cơ bản. Chức năng cơ bản của ẩn dụ nằm ở vai trò tri nhận khi nó giúp hiểu một ý niệm qua việc viện đến một ý niệm khác. Do đó, ẩn dụ không phải là kết quả của trí tưởng tượng thi ca, nó không thuộc vào ngôn ngữ khác thơởng của văn chương như quan niệm truyền thống.