LỜI MỞ ĐẦU Các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học đóng một vai tr hết sức quan trọng trong đời sống con ngƣời. Ngoài việc đƣợc sử dụng làm các thuốc chữa bệnh cho ngƣời và vật nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích, điều hoà sinh trƣởng động thực vật và làm nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm,. các hợp chất thiên nhiên luôn là những chất mẫu, dẫn đƣờng cho việc phát triển các thuốc mới cũng nhƣ các cấu trúc chất tổng hợp mới. Việt Nam là quốc gia có sự đa dạng sinh học thực vật với khoảng 13.000 loài thực vật ậc cao, trong đó có gần 3.000 loài đƣợc dùng làm thuốc trong dân gian, do đó có nhiều điều kiện rất thuận lợi để phát triển mạnh hƣớng nghiên cứu Hóa học các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học bao gồm các nghiên cứu phân lập, xác định cấu trúc, tổng hợp hữu cơ, sàng lọc hoạt tính và phân tích các hợp chất thiên nhiên có tác dụng sinh học và có tiềm năng phát triển thành các tác nhân điều trị.
Mặc dù không phải loài cây bản xứ nhƣng từ lâu cây Na (Annona squamosa L., Annonaceae) đã đƣợc du nhập và trở thành một trong những loài cây trồng phổ biến ở nƣớc ta. Ngoài việc cho trái nhƣ một loại thực phẩm giàu dinh dƣỡng, các bộ phận của cây Na c n đƣợc sử dụng nhƣ những vị thuốc trong y học cổ truyền. Do chƣa có nhiều mô tả chi tiết về thành phần hóa học trong các tài liệu khoa học, cây Na của Việt Nam là một đối tƣợng nghiên cứu lý thú về hóa học và các chức năng điều chỉnh sinh học của các hợp chất thành phần, đặc biệt là các hợp chất acetogenin. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu nhận đƣợc về hóa học và tác dụng sinh học, các các giá trị ứng dụng mới của cây Na có thể đƣợc phát hiện, nhất là trong lĩnh vực phát triển các sản phẩm mới phục vụ cho sức khỏe con ngƣời.
Trong số các hợp chất thành phần đã đƣợc xác định trong Annona squamosa, các acetogenin là các hợp chất đặc biệt lý thú. Có nguồn gốc sinh tổng hợp từ các axit béo có từ 34 đến 37 cacbon, các chất này chỉ xuất hiện chọn lọc ở một số loài thực vật họ Annonaceae, đặc biệt là ở chi Annona. Các chất này thú vị về cấu trúc, phức tạp về hóa học lập thể, khó phân lập do có bản chất sáp và là thách thức trong Luận văn Thạc sĩ 1 2014 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Quang Hợp Cao học Hóa hữu cơ – K22 một thời gian dài cho các nhà nghiên cứu hóa hợp chất thiên nhiên về phƣơng pháp phân lập, xác định cấu trúc và tổng hợp toàn phần. Đƣợc phát hiện trong các chƣơng trình nghiên cứu sàng lọc hoạt tính sinh học, các acetogenin nổi bật với các hoạt tính chống ung thƣ với cơ chế tác dụng mới.
Sau các nghiên cứu phát hiện các cơ chế tác dụng gây độc tế bào và chống khối u của các acetogenin từ năm 1991, các chất này đang đem lại hy vọng cho việc phát triển một thế hệ thuốc chống ung thƣ mới. Trong một chƣơng trình nghiên cứu xác định các hợp chất có tác dụng gây độc tế bào từ thực vật Việt Nam của Phòng thí nghiệm Hóa học các hợp chất thiên nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, các bộ phận của cây Na đã đƣợc lựa chọn làm đối tƣợng nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là nghiên cứu đƣợc các qui trình phân tích và phân tách sắc ký để phân lập các hợp chất thành phần, đặc biệt là các acetogenin, từ hạt cây Na Việt Nam và xác định đƣợc cấu trúc của các hợp chất này bằng các phƣơng pháp phổ hiện đại. Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của luận văn: 1.
Xây dựng quy trình chiết các hợp chất hữu cơ thiên nhiên, đặc biệt là các acetogenin, từ hạt cây Na (Annona squamosa L. Phân tích sắc kí lớp mỏng các phần chiết để định tính các phần chiết và xác định các hệ dung môi thích hợp cho phân tách sắc kí. Phân tách các phần chiết và phân lập các hợp chất bằng các phƣơng pháp sắc kí điều chế. Xác định cấu trúc các hợp chất đƣợc phân lập bằng các phƣơng pháp phổ hiện đại.
Luận văn Thạc sĩ 2 2014 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Quang Hợp Cao học Hóa hữu cơ – K22 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 TỔNG QUAN VỀ HỌ NA (ANNONACEAE) 1.1 Tổng quan về họ Na (Annonaceae) và chi Na (Annona) [5, 3, 45] Họ Na (danh pháp khoa học: Annonaceae) c n đƣợc gọi là họ Mãng cầu, là một họ thực vật có hoa ao gồm các loại cây thân gỗ, cây ụi hay dây leo.500 loài trong 120 - 130 chi, họ Na là họ lớn nhất của ộ Mộc lan (Magnoliales). Họ này sinh trƣởng chủ yếu ở vùng nhiệt đới, và chỉ có một ít loài sinh sống ở vùng ôn đới. Có khoảng 900 loài ở Trung và Nam Mỹ, 450 loài ở châu Phi, và các loài khác ở châu Á. Các loài thuộc họ Annonaceae có lá đơn, mọc so le (mọc cách), có cuống lá và mép lá nhẵn.
Lá mọc thành hai hàng dọc theo thân cây. Vết sẹo nơi đính lá thƣờng nhìn thấy rõ các mạch dẫn. Cành thƣờng ở dạng zíc zắc. Chúng không có các lá ẹ.
Hoa đối xứng xuyên tâm (hoa đều) và thƣờng là lƣỡng tính. Ở phần lớn các loài thì 3 đài hoa nối với nhau ở gốc hoa. Có 3 - 6 cánh hoa có màu nâu hay vàng, nhiều nhị hoa mọc thành hình xoắn ốc cũng nhƣ nhiều nhụy hoa, mỗi nhụy có ầu nhụy dạng một ngăn chứa một hoặc nhiều tiểu noãn. Hoa đôi khi mọc trực tiếp trên các cành lớn hoặc trên thân cây.
Quả là nang, ế quả hay đa quả. Chi này có khoảng 100 - 150 loài chủ yếu là các cây hoặc cây ụi tân nhiệt đới có lá đơn, mọc so le và quả ăn đƣợc. Trong họ Na, chỉ có chi Guatteria có nhiều loài hơn chi Na. Một số loài na chỉ có ở châu Phi mà không có ở châu Á.
Phƣơng ngữ Nam Bộ gọi Na là mãng cầu hay mẳng cầu. Dƣới đây là một số loài quan trọng trong chi Annona, có giá trị đặc iệt trong nông nghiệp và y dƣợc. Annona amambayensis Annona ambotay AUBL. Annona cacans WARM.
Luận văn Thạc sĩ 3 2014 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Quang Hợp Cao học Hóa hữu cơ – K22 Annona calophylla R. Annona cherimola MILL. (mãng cầu hoang) Annona coriacea MART. Annona crassiflora MART.
Annona crotonifolia MART. Annona dolabripetala Annona echinata D. Annona haematantha MIQ. Annona hayesii SAFF.
Annona hexapetala Annona humboldtiana Annona humboldtii Annona hybrid Annona hypoglauca MART. Annona incana Annona jahnii SAFF. Annona lutescens Annona macrocalyx R. Annona macrocarpa Annona malmeana R.
Annona marcgravii Annona microcarpa Luận văn Thạc sĩ 4 2014 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Quang Hợp Cao học Hóa hữu cơ – K22 Annona montana M. (mãng cầu núi) Annona monticola MART. Annona mucosa Annona muricata L. (mãng cầu xiêm) Annona myristica Annona nutans R.
Annona obovata Annona paludosa AUBL. Annona palustris Annona paraguayensis R. Annona phaeoclados MART. Annona pubescens Annona purpurea MOC.
& SESSÉ EX DUNAL. Annona pygmaea Annona reticulata L. Annona scleroderma LAM. Annona spinescens MART.
Annona spraguei SAFF. (mãng cầu ta) Annona sylvatica Annona testudinea Annona triloba Annona tripetala Atemoya (loài lai giữa A.2 Mô tả thực vật về cây Na (Annona squamosa L.) [1, 2, 14, 45] Cây Na (tên khoa học: Annona squamosa L.) là một loài cây thân gỗ nhỏ hoặc cây bụi quả ăn đƣợc còn gọi là mãng cầu ta, mãng cầu dai hay sa lê. Đây là một loài cây trung, lâu năm thuộc chi Annona, họ Annonaceae. Hiện ngƣời ta vẫn Luận văn Thạc sĩ 5 2014 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Quang Hợp Cao học Hóa hữu cơ – K22 chƣa xác định đƣợc chính xác nguồn gốc bản địa của loài cây này.
Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng đây là loài cây có xuất xứ từ vùng Caribe. Lá và quả cây Na (Annona squamosa L., Annonaceae) Thân và lá: Thân thấp, có nhiều nhánh nhỏ, tán rộng, ngọn xòe, các cành thƣờng mọc không đều, cao 2 - 8 m. Cành, thân có màu nâu nhạt, có rãnh nứt nhỏ vàng nhạt. Cành cũ và thân thƣờng có các nốt nâu nhạt hình tròn, bầu dục.
Lá đơn, mỏng, dài 5 - 17 cm và rộng 2 - 6 cm, nhọn ở hai đầu, mọc so le. Lá già màu xanh nhạt, không có lông ở cả hai mặt, cạnh nhẵn không có răng. Lá non có lông nhỏ ở mặt dƣới, khó nhận biết. Cuống lá dài 0,4 - 2,2 cm, có lông nhỏ.
Hoa: Hoa đơn hoặc mọc rũ xuống thành chùm 2 - 4 hoa ên nách lá, đỉnh cành, dài 2,5 cm màu vàng xanh, chuyển tím khi già héo. Hoa Na có 3 đài màu xanh lục. Cánh hoa xếp hai vòng, mỗi vòng 3 cánh, cánh ngoài hẹp dầy, dài 1,6 - 2,5 cm, rộng 0,6 - 0,75 cm, cánh trong rất hẹp, đôi khi thiếu hẳn. Nhụy hoa nhiều, mọc dày, Luận văn Thạc sĩ 6 2014 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Quang Hợp Cao học Hóa hữu cơ – K22 dài dƣới 1,6 cm, bầu nhụy xanh nhạt.
Vòi nhụy màu trắng. Mỗi một nhụy sẽ tạo thành một quả đơn tƣơng ứng với một mắt của quả. Cuống dài 2 cm, có lông nhỏ. Cây bắt đầu có hoa vào khoảng tháng 4 đến tháng 8, lứa hoa đầu và lứa cuối thƣờng rụng nhiều và không tạo quả.
Hoa đƣợc thụ phấn bởi bọ cánh cứng. Hoa cây Na (Annona squamosa L., Annonaceae) Quả: Quả kép là tập hợp của rất nhiều quả đơn hình thành từ các nhụy hoa riêng lẻ. Quả có nhiều nốt lồi hay còn gọi là mắt hình giọt nƣớc tƣơng ứng với các quả đơn. Khi c n non quả có màu xanh nhạt, khi chín chuyển sang vàng xanh hơi mốc và các mắt bắt đầu tách ra khỏi nhau.
Mỗi mắt dài 1,2 - 1,9 cm, rộng 0,6 - 1,3 cm. Quả có đƣờng kính 5 - 10 cm. Thịt quả màu trắng, hơi vàng, mềm có vị ngọt và mùi thơm đặc trƣng. Hạt có màu nâu sẫm hoặc đen, vỏ cứng dài 1,3 - 1,6 cm.
Mùa Na chín khoảng từ tháng 6 đến tháng 9 hàng năm.3 Phân bố [3, 5] Cây Na có thể sinh trƣởng ở độ cao từ 0 đến 2.000 m so với mực nƣớc biển, thích ứng với đất phù sa đồng bằng và đất đồi tơi xốp dễ thoát nƣớc. Na là loài cây ƣa sáng, đặc biệt phát triển tốt ở những vùng có thời tiết khô, nóng.