CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHĨA VỤ HOÀN TRẢ CỦA NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC 1. Khái quát về nghĩa vụ hoàn trả của người thi hành công vụ theo pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 1. Khái niệm nghĩa vụ hoàn trả của người thi hành công vụ theo pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Nghĩa vụ hoàn trả của người thi hành công vụ là vấn đề mà pháp luật của các nước đều quy định. Tuy nhiên, mỗi vùng lãnh thổ lại có sự khác nhau trong việc ban hành đạo luật rSiêng điều chỉnh TNBTCNN.
Một số quốc gia có luật điều chỉnh riêng về TNBTCNN4, một số khác lại không điều chỉnh bằng một đạo luật riêng biệt5. Do đó, quy định về nghĩa vụ hoàn trả của người thi hành công vụ của trong pháp luật về TNBTCNN khác nhau về căn cứ, phạm vi, trách nhiệm và cách xác định mức hoàn trả do sự khác biệt chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia. Pháp luật Canada về TNBTCNN quy định, khi Nhà nước phải bồi thường cho bên thứ ba vì những thiệt hại hoặc vì nguyên nhân khác mà công chức, viên chức được xác định có trách nhiệm thì phải bồi hoàn cho Nhà nước một phần hoặc toàn bộ số tiền6. Pháp luật Nhật Bản về TNBTCNN quy định người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả nếu họ có lỗi cố ý hoặc vô ý nghiêm trọng7.
Pháp luật Pháp về TNBTCNN quy định cơ quan nhà nước có quyền khởi kiện công chức có lỗi, yêu cầu bồi hoàn một phần hoặc toàn bộ số tiền mà cơ quan đó đã bỏ ra để bồi thường cho người bị thiệt hại8. 4 Ở Châu Mĩ và Caribe, Canada và Hoa Kỳ là những quốc gia ở Bắc Mĩ có luật điều chỉnh riêng về TNBTCNN. Ở Châu á, nhiều nước có Luật điều chỉnh riêng về TNBTCNN như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia, Singapore…Ở Châu âu, một số quốc gia cũng có Luật điều chỉnh riêng về TNBTCNN như Vương quốc Anh, Thụy Sỹ, Phần Lan. Ở Châu phi, nhiều nước cũng đã ban hành Luật riêng điều chỉnh về TNBTCNN, như Cộng hòa Zambia, Cộng hòa Ghana, Cộng hòa Sierra Leone, Cộng hòa Nam Phi, Cộng hòa Botswana.
Ở Châu đại dương, New Zealand và Australia cũng ban hành Luật riêng về TNBTCNN 5 Indonesia, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức. 6 Cao Đăng Vinh (2008),” Tìm hiểu pháp luật bồi thường nhà nước ở Canada”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (Số chuyên đề pháp luật bồi thường nhà nước), tr 175. 7 Lê Thái Phương (2008). “Kinh nghiệm pháp luật Nhật Bản về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (Số chuyên đề pháp luật bồi thường nhà nước), tr 130.
8 Nguyễn Thị Thu Vân (2008), “Chế định trách nhiệm bồi thường nhà nước trong pháp luật Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (Số chuyên đề pháp luật bồi thường nhà nước), tr 116. 10 Theo Luật TNBTCNN tại Việt Nam qua các thời kỳ, quy định về nghĩa vụ hoàn trả của người thi hành công vụ vừa có điểm tương đồng, vừa có điểm khác biệt với các quốc gia vừa nêu. Khi chưa có Luật TNBTCNN điều chỉnh khái niệm nghĩa vụ hoàn trả, quy định này được ghi nhận rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau9. Do được quy định ở nhiều ngành luật, nhiều nguồn khác nhau nên trong giai đoạn này chưa có sự thống nhất trong cách hiểu về khái niệm nghĩa vụ nghĩa vụ hoàn trả.
Khái niệm “hoàn trả” theo tiếng anh là reimbursement, một số văn bản pháp luật và công trình nghiên cứu pháp lý tại Việt Nam thì được gọi là “bồi hoàn” hoặc “việc hoàn lại”, “việc hoàn trả”, “việc trả lại”.Thuật ngữ “hoàn trả” được sử dụng dưới góc độ thuật ngữ Luật học được hiểu là “trả lại cho một người một khoản tiền mà trước đó người đó đã chi trả”. Trong mối quan hệ giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật về hoàn trả, Nhà nước là chủ thể có quyền yêu cầu đối với người có nghĩa vụ hoàn trả thì bản chất của “hoàn trả” là việc “trả trước hộ ai đó và sau đó đòi lại”10. Xuất phát từ nhu cầu phải có quy định điều chỉnh về khái niệm hoàn trả của người thi hành công vụ cũng như quyền được bồi thường khi bị thiệt hại về tài sản, thân thể và danh dự do bị người khác xâm hại là quyền của công dân được pháp luật ghi nhận và bảo hộ không chỉ trong Hiến Pháp mà nên cụ thể hóa bằng một đạo luật. Chính vì vậy, cần thiết phải phát triển cả quy định, phạm vi điều chỉnh và thủ tục hoàn trả trong mối quan hệ giữa nhà nước, người bị thiệt hại, người gây thiệt hại là cán bộ, công chức11.
Năm 2009, Luật TNBTCNN được ban hành, lần đầu tiên khái niệm về nghĩa vụ hoàn trả của người thi hành công vụ được điều chỉnh một cách cụ thể. Luật quy định nên xem nghĩa vụ hoàn trả của người thi hành công vụ là một nghĩa vụ tự thân 9 Điều 623, 624 BLDS năm 1995, Nghị định số 47/CP ngày 03/5/1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra (Nghị định số 47/CP) tại Điều 12 quy định trách nhiệm hoàn trả, theo đó, công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng phải hoàn trả khoản tiền mà cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng đã bồi thường cho người bị thiệt hại, Điều 16 Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra, Điều 619, 620 BLDS 2005, Chương III của Nghị định số 16/2010/NĐ- CP ngày 03/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TNBTCNN và tại Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT- BTP-TANDTC-VKSNDTC của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ 10 Vụ Pháp luật Dân sự Kinh tế, Bộ Tư pháp, Báo cáo ngày 05/05/2006 về kết quả Tọa đàm về Luật Bồi thường nhà nước trong khuôn khổ hợp tác với dự án JICA, tr.11 11 Dương Anh Sơn, Nguyễn Xuân Quang (2008), “Luật Bồi thường nhà nước: Một số kiến nghị về phạm vi điều chỉnh và thủ tục bồi thường”, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 01(44). 11 và dựa trên yếu tố lỗi của người thi hành công vụ. Người thi hành công vụ phải hoàn trả trên ba lĩnh vực (trừ lĩnh vực tố tụng hình sự với lỗi cố ý thì phải hoàn trả).
Ngoài ra, Luật TNBTCNN năm 2009 của Việt Nam cũng gắn mức hoàn trả với ba mức độ lỗi: lỗi vô ý, lỗi cố ý nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự và lỗi cố ý và người thi hành công vụ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Kế thừa các khái niệm trên, Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định: “Hoàn trả là trách nhiệm của người thi hành công vụ gây thiệt hại phải trả lại một khoản tiền cho ngân sách nhà nước theo quy định của Luật này”12. Theo tác giả, việc xây dựng quy định với tên gọi là nghĩa vụ hoàn trả đối với người thi hành công vụ theo pháp luật Việt Nam về TNBTCNN thì phù hợp hơn so với “trách nhiệm hoàn trả”. Thứ nhất, Nhà nước đã thực hiện trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại.
Thứ hai, Nhà nước có quyền yêu cầu người thi hành công vụ thực hiện nghĩa vụ hoàn trả bằng một quyết định hoàn trả mà không thể ép họ phải có trách nhiệm thực hiện được. Thứ ba, hậu quả pháp lý giữa mối quan hệ này cũng có sự khác biệt với việc thực thi trách nhiệm của người thi hành công vụ, đó là khi cơ quan bồi thường thiệt hại không thể cưỡng chế người thi hành công vụ hoàn trả tiền thì Nhà nước hoàn toàn có thể kiện ra tòa như vụ việc dân sự thông thường. Đặc điểm nghĩa vụ hoàn trả của người thi hành công vụ theo pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Nghĩa vụ hoàn trả của người thi hành công vụ theo pháp luật Việt Nam về TNBTCNN có các đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, mối quan hệ hoàn trả là mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước và người thi hành công vụ gây thiệt hại gắn liền với chức trách nhiệm vụ. Chủ thể trong mối quan hệ này là những chủ thể đặc biệt.
Nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt, có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý xã hội nhằm thể hiện và bảo vệ trước hết là lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng. Theo pháp luật Việt Nam, Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân, xã hội tổ chức theo cách quyền lực của nhân dân được thể chế hóa thành pháp luật và được đảm bảo thực thi bằng bộ máy Nhà nước cũng như các thiết chế chính trị - xã hội khác nhằm mang lại quyền lợi cho nhân dân. Người thi hành công vụ chính là người thay 12 Khoản 8 Điều 3 Luật TNBTCNN năm 2017. 12 mặt, đại diện cơ quan Nhà nước theo quy định để thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước quy định để thực hiện chức năng quản lý xã hội.
Tính chất này phản ánh sự chia sẻ trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng như mối liên hệ vốn có giữa Nhà nước và người thi hành công vụ13. Thứ hai, nghĩa vụ hoàn trả của người thi hành công vụ theo pháp luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước thực chất là trách nhiệm bồi thường của người thi hành công vụ đối với Nhà nước. Các sai phạm của người thi hành công vụ trong quá trình đại diện cơ quan Nhà nước thực hiện nhiệm vụ gây thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức mà cơ quan Nhà nước phải thực hiện việc bồi thường cho người bị thiệt hại theo Luật TNBTCNN. Tuy Nhà nước thực hiện việc bồi thường, nhưng việc gây thiệt hại trong quá trình công vụ cũng có thể là do một phần hoặc toàn bộ là lỗi của người thi hành công vụ.
Chính vì thế sau khi Nhà nước bồi thường thì người thi hành công vụ phải có nghĩa vụ hoàn trả cho cơ quan Nhà nước đã thực hiện bồi thường do lỗi thi hành công vụ của mình.