chương 1 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 do Quốc hội ban hành: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng” (Quốc hội, 2016, tr. [13] Cơ sở của mọi tín ngưỡng là niềm tin của con người vào thực thể, lực lượng siêu nhiên hay gói gọn lại là niềm tin của con người vào thực tế, sự ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được. Có nhiều loại niềm tin, nhưng niềm tin ở đây là niềm tin tín ngưỡng, tức là niềm tin vào “cái thiêng”. Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó ra đời và tồn tại cùng loại người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh con người, tồn tại bên cạnh đời sống vật chất, đời sống xã hội, tin thần – tư tưởng, đời sống tình cảm,… So với tôn giáo, tín ngưỡng mang tính chất dân tộc nhiều hơn, nó không có đầy đủ các dấu hiệu như giáo chủ, giáo lý, có tổ chức điều hành chặt chẽ như tôn giáo.
Tín ngưỡng thờ Mẫu Theo Nhà nghiên cứu Bùi Xuân Đính, “Thờ Mẫu là hình thái tín ngưỡng của người Việt và nhiều tộc người ở khu vựa Nam Trung Quốc. Thờ mẫu của người Việt bắt nguồn từ việc thờ nữa thần có nguồn gốc xa xưa, liên quan đến chế độ mẫu hệ và thờ tổ tiên thị tộc mẫu hệ. Dân gian tin rằng, Mẫu là mẹ của mọi người nên luôn che chở, phù hộ độ trì cho con người gặp nhiều thuận lợi, có sức mạnh và niềm tin để vượt qua tai ương, vận nạn hay bệnh tật, đem đến cho cuộc sống sự bình yên, sung túc…” [3, tr 676]. 9 Trong lịch sử, thời phong kiến, một số nữ thần đã được lịch sử hóa và nhà nước hóa, với các danh xưng như Quốc mẫu, Vương mẫu, Thánh mẫu, như hiện tượng Nguyên phi Ỷ Lan, mẹ của Thánh Gióng.
Từ khoảng thế kỷ thứ XVI trở đi, các hình thức thờ Mẫu được định hình và mở rộng, với các nghi thức ảnh hưởng từ Đạo giáo và được biểu hiện bằng Mẫu Tam phủ, gồm Thiên phủ (Mẫu Thượng thiên, sáng tạo và cai quản vùng trời), Địa phủ (sáng tạo và cai quản miền đất) và Mẫu Thượng Ngàn (sáng tạo và cai quản miền rừng). Ở các làng ven sông ven biển thì gọi là Thoải phủ (sáng tạo và cai quản miền sông nước, biển). Thế kỷ XVI còn xuất hiện Mẫu Liễu Hạnh – một nhân vật nửa thật, nửa huyền thoại, trở thành Mẫu Tứ phủ. Trong điện thờ Tam tòa Thánh mẫu, Mẫu Liễu Hạnh với tư cách Mẫu Thượng Thiên luôn ở vị trí trung tâm, với tư cách thần chủ của Đạo Mẫu, mặc đồ đỏ.
Trong quan niệm của dân gian, Liễu Hạnh có thể hóa thân vào Mẫu Thượng Ngàn. Như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu có bản chất là thờ Mẫu thần và nữ thần, một hình thái tín ngưỡng mang đậm yếu tố văn hóa của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước Việt Nam. Nguồn gốc lịch sử của nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Nguồn gốc, lịch sử của hầu đồng: Nghi lễ hầu đồng hay còn gọi là Chầu Văn xuất hiện từ đầu thế kỉ XVI nhưng bắt đầu phát triển mạnh từ thế kỷ XVII (đặc biệt ởNam Định và các quần thể di tích lớn. Phát triển rực rỡ cuối triều nhà Nguyễn Hầu đồng là nghi lễ truyền thống, có từ lâu đời Không rõ Hầu đồng xuất hiện trong đời sống dân gian từ khi nào, chưa có một tài liệu cụ thể nào nói về nguồn gốc và xuất xứ của nghi lễ Hầu đồng.
Tuy nhiên trong dân gian truyền thuyết cũng như ký ức còn đọng lại ở một số già làng về sinh hoạt cúng lễ tự phát trong các luỹ tre xanh. Đây là hình thức dân gian từ cánh học trò, trẻ mục đồng đã chơi đùa, hành động tinh nghịch trong những khi nhàn rỗi, đó là trò 10 phụ đồng chổi, phụ đồng ếch,…Và tuy các trò chơi này bán tín bán nghi, nhưng ít ra cũng để lại trong họ những ấn tượng, đôi lúc họ muốn được thể hiện, hoặc được trông thấy, xem nữa bởi sự bốc đồng như có siêu nhiên nhập vào tạo sự lạ lẫm mà bình thường không thấy. Lớp trẻ nhàn rỗi này không cần khăn chầu áo ngự, có lúc chăn trâu mặc quần áo bình thường và chỉ cần chiếc khăn, mảnh vải phủ đầu là có thể khoanh chân nhắm mắt nghe bạn bè kiều thỉnh nôm na (không cần có đàn nhạc chầu) với nén nhang cắm trước mặt và tay cầm chiếc chổi, ấy vậy mà khi nghe đọc bài cùng với âm thanh gõ vào chén bát lập tức bốc đồng. Một vài đoạn trong phụ đồng chổi như sau: Nghi lễ hầu đồng với tên gọi “Tín ngưỡng thờ Mẫu” được UNESCO vinh danh ở hạng mục “ Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại” vào ngày 1/12/2016 tại Phiênhọp Ủy ban Liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 diễn ratại thành phố Addis Ababa – Ethiopia với tên gọi “Thực hành Tín ngưỡng thờ MẫuTam Phủ của người Việt”.
Nghi lễ Hầu đồng còn đặc biệt ở chỗ đó là không chỉ là riêng nghi lễ của người Việt mà còn ở một số dân tộc khác như Then của người Tày, Mỡi của người Mường, Lễ cấp sắc của người Dao, Một của người Thái,… Then là tín ngưỡng của cộng đồng người Tày, thầy Then là người thuộc các bài cúng về đưa ma, cúng cầu an, cầu tự… Thầy Then có thể xuất hồn đi huy động binh mã về làm việc khi cúng lễ, thêm vào là lời ca, âm nhạc nên có sức cuốn hút. Trong Then còn chứa đựng tín ngưỡng Saman giáo, một đạo giáo có từ thời bộ lạc xa xưa, có cả sự xuất hồn, nhập hồn. Người Tày Đăm ở Nghĩa Lộ quan niệm tổ tiên khi chết phải vất vả vượt qua ba tầng Trời mới đến Mường Trời của tổ tiên. Đây cũng là con đường về với cội nguồn do vậy con cháu nếu có đức độ sẽ được tổ tiên phù hộ để sau này được lớn cành xanh lá.
Bên cạnh Then Tày còn có Then Nùng mang nhiều sắc thái riêng. Lễ cấp sắc của đồng bào Dao cũng là một dạng của nghi lễ Hầu đồng. Lễ cấp sắc mà người Dao gọi là quả tăng hay quá tăng, người Việt gọi là cấp đèn, người Trung Hoa gọi là quải đăng tức lễ thụ phong trong Đạo giáo. Lễ cấp sắc gồm các cấp 11 thụ phong như cấp 3 đèn, cấp 7 đèn.
Sau khi được cấp 7 đèn mới được lựa chọn làm Thầy, được học tập các nghi thức Đạp giáo, từ đó mà thụ phong cao hơn để chủ trì lễ cấp sắc cho người khác, biết phép trừ tà bắt quỷ, sai khiến âm binh thần tướng chữa bệnh cứu dân… Muốn thành thầy cúng (thầy tào hay đạo sĩ) thì phải qua lễ cấp sắc. Lễ cấp sắc 7 đèn được đánh đồng thiếp (chết giả). Trong đồng thiếp được lên thiên đàng… Sau đó các thầy cúng lại giải đồng cho sống lại (tái sinh)Lễ cấp sắc của đồng bào Dao cũng có xuất hồn qua đánh đồng thiếp, có trừ tà bắt quỷ, đặc biệt tập thể người dự có tục sám hối, tự hành hạ mình để sửa lỗi và lễ cấp sắc cũng mang nặng tính chất phù thuỷ, Saman giáo. Nói cách khác Then Tày - Nùng hay lễ cấp sắc của người Dao đều mang tính đồng bóng Theo giáo sư Vũ Ngọc Khánh thì hình thức giao lưu này có nhiều trên thế giới.
Ở Trung Quốc muốn hỏi Thần người ta đặt lễ trên bàn, một bàn khác đặt mâm đựng cát khô, dùng bút hình chữ v dài hai, ba tấc, hai người cầm hai đầu dụng cụ hình chữ v đó cắm xuống mâm cát. Qua cầu nguyện bút ghi trên cát lời phán bảo, tất nhiên phải khó khăn mới đoán ra chữ rồi chép thành bài. Tylor lại kể thuật viết Hầu đồng ở Anh cũng có sự giống nhau với Trung Quốc, mặc dù về thần học Anh và Trung Quốc khác nhau. Người ta dùng một bàn nhỏ hình trái tim dài khoảng bảy tấc có ba chân, hai chân có bánh xe, chân thứ ba là cây bút.
Một tờ giấy đặt dưới cây bút người cầu đồng đặt tay trên bàn, chờ câu trả lời viết trên giấy… Và Tylor cho hiện tượng này bị linh hồn ám ảnh. Khái quát về thực hành nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Nghi thức hầu đồng (lên đồng, hầu bóng) là nghi lễ hết sức đặc biệt trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ mang đậm màu sắc văn hóa tâm linh huyền bí của người Việt. “Hầu đồng” là hiện tượng nhập hồn nhiều lần của nhiều vị thần linh, trong đó mỗi lần một vị thần linh nhập hồn (ốp đồng, giáng đồng) rồi làm việc quan (tức thời gian thực hiện các nghi lễ nhảy múa, ban lộc, phán truyền) và xuất hồn (thăng đồng) thì được gọi là một giá đồng. 12 “Đồng” còn mang nghĩa là cùng, tức là người cùng cái bóng của Thánh thần hòa nhập làm một.
Thời gian người ngồi đồng là thời gian người đó thể hiện cái bóng của Thánh thần, mọi cử chỉ, lời nói của người lên đồng lúc đó là của Thánh thần. Hầu đồng là một hình thức diễn xướng dân gian dựa trên việc kết hợp hát chầu văn, thay vì đọc văn thì người hầu đồng sẽ hát văn, thay vì cúng bái thì người hầu đồng lại thể hiện bằng các động tác múa được cách điệu từ những hoạt động lao động đời sống thường ngày. Đây một loại hình âm nhạc đặc sắc mang tính tâm linh với lời ca trau chuốt, giai điệu dặt dìu cuốn hút cùng với những điệu múa uyển chuyển và các nghi lễ trang nghiêm. từ đó đưa con người (thanh đồng) vào trạng thái thăng hoa.
Như vậy, nội dung của nghi thức hầu đồng chính là hát và múa thông qua các ông đồng, bà đồng để giao tiếp với thần linh. Trong nghi lễ này, những người lên đồng hóa thân, tái hiện hình ảnh các vị Thánh Mẫu nhằm phán truyền, ban phúc lộc… cho các tín đồ đạo Mẫu. Trong nghi lễ hầu đồng có tất cả 36 vỡ diễn xướng, tục gọi là 36 giá đồng, mỗi giá đồng nói về huyền tích của một vị Thánh, làm nghi lễ nhảy, múa, ban lộc, phán truyền trong tiếng hát văn và nhạc cung văn. Tuy nhiên, trong một buổi hầu đồng các thanh đồng không bao giờ trình diễn đủ 36 giá, mà thường chỉ chọn một số giá có nội dung phù hợp với buổi hầu đồng đó mà thôi.