phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung của Luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Khái lƣợc về tự sự học và hành trình sáng tác của Nguyễn Danh Lam (26 trang). Chúng tôi khái lƣợc lý thuyết tự sự, bao gồm khái niệm về tự sự, tự sự học, các phƣơng diện nghiên cứu cơ bản của tự sự học. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng trình bày tóm lƣợc hành trình tiểu thuyết và quan điểm sáng tác của Nguyễn Danh Lam.
Đây là cơ sở cho việc phân tích những đặc trƣng của nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc và Cuộc đời ngoài cửa trong các chƣơng tiếp theo. Nghệ thuật tự sự qua tổ chức cốt truyện, thời gian, không gian trần thuật (46 trang). 10 Luận văn hƣớng đến một số phƣơng diện nổi bật của nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và Cuộc đời ngoài cửa nhƣ tổ chức cốt truyện, thời gian và không gian trần thuật. Nghệ thuật tự sự qua phƣơng thức trần thuật (32 trang).
Luận văn phân tích và làm rõ đặc trƣng của nghệ thuật tự sự trong hai tiểu thuyết qua phƣơng thức trần thuật nhƣ ngƣời kể chuyện, điểm nhìn, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật. 11 Chƣơng 1 KHÁI LƢỢC VỀ TỰ SỰ HỌC VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DANH LAM 1. Khái lƣợc về tự sự học 1. Khái niệm tự sự Hằng ngày con ngƣời vẫn kể, thông báo cho nhau các chuyện xảy ra ở đâu đó, chi tiết hoặc tóm lƣợc.
Mỗi sự việc, mỗi cuộc đời đều đƣợc hình dung bằng những câu chuyện, mà có chuyện là có tự sự, bởi tự sự là một phạm vi rộng lớn trong hoạt động giao tiếp của con ngƣời. Để hiểu một sự việc, ngƣời ta tìm cách kể sự việc ấy có nguyên nhân có kết quả, có đầu có cuối, thƣờng hƣớng tới một kết cục nhất định, có tác dụng định hƣớng giá trị cuộc đời. Tự sự vì vậy trở thành hoạt động có tính chất nhận thức của con ngƣời. Roland Barthes nói: Đã có bản thân lịch sử loài ngƣời, thì đã có tự sự.
Jonathan Culler (1998) cũng nói: Tự sự là phƣơng thức chủ yếu để con ngƣời hiểu biết sự vật. Nhà giải cấu trúc Mĩ - J. Miller (1993) cho rằng: Tự sự là cách để ngƣời ta đƣa các sự việc vào một trật tự, và từ trật tự ấy mà chúng ta có đƣợc ý nghĩa. Tự sự là cách tạo nghĩa cho sự kiện, biến cố.
Nhƣ vậy, tự sự nằm trong bản chất của con ngƣời, bởi con ngƣời là một động vật biết tự sự. Tự sự có mặt trong tất cả những lĩnh vực khác nhau của đời sống con ngƣời: tôn giáo, lịch sử, điện ảnh, khoa học, triết học, chính trị, văn học… Tuy nhiên, chỉ có tự sự văn học là phức tạp nhất. Từ những quan điểm trên, chúng tôi đƣa ra một cách hiểu khái quát về tự sự (narrative) là hoạt động dùng một phƣơng tiện kí hiệu biểu nghĩa nhất định (ngôn ngữ, điệu bộ, hình ảnh…) kể một chuyện cho ngƣời khác xem, nghe, nhìn nhằm gửi gắm thông điệp, tƣ tƣởng. Tự sự gồm hai yếu tố: “tự” (kể) và “sự” (câu chuyện, sự kiện, hành động).
Kể là trình bày lần lƣợt, thứ tự, có đầu có đuôi, các chi tiết cho thấy sự biến đổi của nhân vật, sự vật. Sự là những việc, hành động, sự kiện xảy ra, những thay đổi có ý nghĩa nhân sinh. Tự sự không chỉ có sự kiện mà còn phải có ngƣời kể, tức là ngƣời chứng kiến, nhìn thấy, phát hiện ý nghĩa và kể lại. Chính tiêu chí này, trong cách phân chia các thể loại văn học cơ bản (tự sự; trữ tình và kịch), tự sự đƣợc xem là một trong ba loại văn học có phƣơng thức, tính chất, đặc 12 điểm đặc thù, trong đó nổi bật nhất là phƣơng thức tự sự (kể và trần thuật).
Tự sự trong văn học không đóng khung ở các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, ngụ ngôn mà có cả trong thơ, thơ trữ tình, kịch… Và chính sự phức tạp của tự sự trong văn học làm thành đối tƣợng nghiên cứu của bộ môn tự sự học. Tự sự học Tự sự học xét về từ nguyên: "happamoiorus” (Nga), “narratologie” (Pháp), “narratology” (Anh) đƣợc một số ngƣời dịch là “trần thuật học”, nhƣng cũng có ngƣời dịch là “tự sự học’. Với hai cách dịch ấy, mỗi bên đều dành cho mình những lý lẽ nhất định. Lại Nguyên Ân tán thành và cổ xúy cho việc mở ra môn trần thuật học trong việc nghiên cứu văn học ở Việt Nam.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc ông đề nghị gọi tên trần thuật học (tức là lý luận về trần thuật, khoa học về trần thuật) thay vì tên gọi tự sự học vì một số lý do. Thứ nhất, tự sự là dịch chữ épos (thuật ngữ của Aristote) chỉ một trong ba loại văn học lớn là tự sự, trữ tình và kịch. Trần thuật (narration) chỉ phƣơng thức nghệ thuật đặc trƣng trong các tác phẩm văn học tự sự. Thứ hai, việc phân biệt hai thuật ngữ tự sự và trần thuật cũng thuận cho việc dịch các thuật ngữ nƣớc ngoài tƣơng ứng.
Thứ ba, thực chất hoạt động trần thuật là kể, là thuật, cái đƣợc thuật và kể trong tác phẩm tự sự thì lại gọi là chuyện. Một khuynh hƣớng khác theo Trần Đình Sử lại đề nghị dịch “narratology” là tự sự học. Ông cho rằng trần thuật học (narratison) là thuật ngữ của cú pháp học, các nhà lí luận cấu trúc chủ nghĩa đem mô hình trần thuật của ngôn ngữ học vận dụng vào tác phẩm văn học tự sự, xem các văn bản đó nhƣ một loại câu. Trần thuật học chỉ hành động kể, “trần” nghĩa là kể, mà “thuật” cũng là kể.
Trần thuật học chỉ nghiên cứu phƣơng diện hành vi kể, lời kể với những ngƣời kể, điểm nhìn, thời thức. trong khi đó tự sự học bao gồm cả hệ thống sự kiện, cách tổ chức các sự kiện đó, các môtíp truyện, sự phân loại chúng, lịch sử vận động của tự sự. những vấn đề rộng lớn hơn trần thuật học rất nhiều. Tự sự học không giới hạn trong phạm vi tiểu thuyết, truyện ngắn, các thể tài của loại hình tự sự mà có cả ở các loại hình văn học khác nhƣ trữ tình và kịch.
Hơn thế nữa, tự sự còn 13 mở rộng ở các hình thức khác nhau nhƣ chính trị, tôn giáo, lịch sử, triết học, điện ảnh, điêu khắc, hội hoạ… bởi vì tất cả những tác phẩm này đều “kể” cho ngƣời ta nghe một câu chuyện. Cho nên việc dùng thuật ngữ tự sự học là hợp lý hơn khái niệm trần thuật học và trần thuật học chỉ là một bộ phận của tự sự học, trong đó trần thuật nhƣ một cấp độ của tự sự bên cạnh miêu tả, bình luận, trữ tình của chủ thể trần thuật. Từ thời cổ đại, ngƣời ta đã biết phân biệt tự sự lịch sử khác tự sự nghệ thuật. Đến thế kỉ thứ V sau CN, ngƣời ta phân biệt giữa tự sự mô phỏng, tự sự giải thích và tự sự hỗn hợp.
Khoảng đầu những năm 70 của thế kỉ XX, tự sự học đã hình thành nhƣ một bộ môn đặc thù của nghiên cứu văn học với nhiệm vụ và phƣơng pháp riêng. Cho đến nay, tự sự học trải qua ba thời kì: tự sự học trƣớc cấu trúc chủ nghĩa, tự sự học cấu trúc chủ nghĩa và tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa. Các nhà tự sự học xác định đối tƣợng nghiên cứu của tự sự học không phải là tác phẩm tự sự mà là “ngữ pháp truyện kể” (Tz. Todorov); là “hình thức và chức năng của tác phẩm tự sự” (G.
Prince); là “lý thuyết về văn bản tự sự” (M. Bal); là “cấu trúc của văn bản tự sự” (S. Cho dù là những biểu đạt, cách gọi khác nhau nhƣng tựu chung lại đối tƣợng của tự sự học nhƣ một lý thuyết không phải là văn bản cụ thể, mà là hình thức bên trong, cấu trúc nội tại của văn bản tự sự và những vấn đề liên quan. Các nhà tự sự học không nghiên cứu nhân vật mà nghiên cứu chức năng, vai hành động của nhân vật; không nghiên cứu cốt truyện mà nghiên cứu chuỗi hành động, lôgic nội tại tạo thành cốt truyện; đối lập diễn ngôn trần thuật với câu chuyện; nghiên cứu cấu trúc trần thuật với ngƣời kể chuyện, điểm nhìn; các thủ pháp kiến tạo thời gian, không gian, các phƣơng thức trần thuật.
Các nhà tự sự học cũng nghiên cứu hệ thống giao tiếp tự sự với quan hệ tác giả hàm ẩn, ngƣời kể chuyện, ngƣời đọc hàm ẩn với tác giả thật và ngƣời đọc thực tế. Tóm lại, các nhà tự sự học không nghiên cứu các yếu tố bề ngoài mà nghiên cứu các mối quan hệ bề sâu của tự sự. Trong luận văn này, chúng tôi đồng tình với quan điểm của Trần Đình Sử cho rằng: Tự sự học (narratology) là một nhánh của thi pháp học hiện đại, là một 14 lĩnh vực nghiên cứu đặc thù của lí luận văn học, lấy nghệ thuật tự sự làm đối tƣợng. Hiểu theo nghĩa rộng, tự sự học nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề liên quan, hoặc nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trần thuật của văn bản tự sự nhằm tìm một cách đọc ý nghĩa.
So với nhiều lĩnh vực khác, tự sự học xuất hiện khá muộn màng nhƣng đã nhanh chóng trở thành lĩnh vực nghiên cứu đƣợc đông đảo các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Ở Việt Nam, trong các lĩnh vực lý luận, nghiên cứu, phê bình văn học trong nhiều năm trở lại đây, lý thuyết tự sự đã đƣợc vận dụng khá thƣờng xuyên bởi tính hiệu quả của lý thuyết này trong việc khám phá ý nghĩa của tác phẩm văn học trên chính cơ sở cấu trúc văn bản. Một số phương diện cơ bản của tự sự học 1. Người kể chuyện và điểm nhìn Ngƣời kể chuyện (narrator/ narrateur) là một trong những phạm trù cơ bản, nòng cốt, không thể thiếu của lý thuyết tự sự học, là một yếu tố quan trọng trong nghệ thuật tự sự của thể loại.
Tìm hiểu ngƣời kể chuyện sẽ giúp ta hiểu đƣợc phƣơng diện chủ thể của tác phẩm tự sự, sẽ hiểu tác phẩm một cách trọn vẹn, sâu sắc hơn. Ngƣời kể chuyện theo nghĩa đen là ngƣời kể câu chuyện cho ngƣời đọc (ngƣời nghe). Đó là nhân vật trung tâm của tự sự, bởi vì toàn bộ văn bản tự sự đều là sản phẩm của ngƣời kể chuyện.