phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài Chƣơng 2: Cách vận dụng thành ngữ trong tác phẩm của Vƣơng Hồng Sển Chƣơng 3: Giá trị biểu đạt của thành ngữ trong tác phẩm của Vƣơng Hồng Sển 9 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái quát về thành ngữ 1. Khái niệm thành ngữ Khái niệm về thành ngữ vẫn là vấn đề đƣợc quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Cho nên, giữa các nhà nghiên cứu không thống nhất ở các quan niệm là do bản thân đối tƣợng thành ngữ.
Trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, của tác giả Nguyễn Nhƣ Ý (chủ biên) (1997, tr.271) định nghĩa: “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định, có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu”. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, của nhóm tác giả Lê Bá Hán và cs.297) cho rằng:“Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định, bền vững, có tính nguyên khối về ngữ nghĩa không nhằm diễn đạt trọn một ý, một nhận xét như tục ngữ, mà nhằm thể hiện một quan niệm dưới một hình thức sinh động, hàm súc”. Ngoài nhận định trên, theo Hoàng Văn Hành (2002, tr.27) thành ngữ là một hiện tƣợng phức tạp, là một đối tƣợng ngôn ngữ đa diện nên ông chỉ ra thành ngữ có các đặc điểm sau: Tính cố định về hình thái cấu trúc; Tính cố định và bóng bẩy về ý nghĩa. Từ đó, ông viết: “Thành ngữ là một loại tổ hợp cố định, bền vững về hình thái - cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ”.
Ví dụ: mồm năm miệng mười không nói mồm mười miệng năm.” Bên cạnh đó, mỗi nhà nghiên cứu thƣờng xuất phát từ những tiêu chí, những bình diện khác nhau để nhìn nhận những thuộc tính cơ bản của thành ngữ. Chính vì vậy mà có những quan niệm khác nhau về thành ngữ. Diệp Quang Ban (2010, tr.458) viết: “Thành ngữ (fomulatic phrase) là một tổ hợp tương đối ít biến đổi trong thành phần cấu tạo, có tính chất của đơn vị trọn vẹn về nghĩa tương đương với cấu tạo của một từ có ý nghĩa từ vựng, như nước đổ lá khoai có nghĩa là “không có tác dụng”, trống đánh xuôi, kèn thổi ngược là “không thống nhất (với nhau) về ý nghĩ, hành động””. Ngoài ý kiến trên, theo Nguyễn Thiện Giáp (1996, tr.12) cho rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có 10 tính gợi cảm”.
Nhƣ vậy, tác giả cũng quan tâm đến mặt cấu tạo, ý nghĩa và cấp độ của thành ngữ. Hồ Lê (1976, tr.97) cũng đƣa ra quan niệm: “Thành ngữ là những tổ hợp từ (gồm nhiều từ hợp lại) có tính vững chắc về cấu tạo và tính bóng bẩy về ý nghĩa dùng để miêu tả một hình ảnh, một hình tượng, một tính cách hay một trạng thái nào đó”. Đái Xuân Ninh (1978, tr.212) trong Hoạt động từ Tiếng Việt khẳng định: “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các yếu tố tạo thành đã mất tính độc lập ở cái mức độ nào đó, và kết hợp lại thành một khối tương đối vững chắc và hoàn chỉnh”. Cũng nhƣ các nhà nghiên cứu trên, thì Nguyễn Hữu Huỳnh (1994, tr.212) trong Tiếng Việt hiện đại đƣa ra quan niệm: “Thành ngữ là một cụm từ cố định có tính hoàn chỉnh về nghĩa, có sắc thái biểu cảm, có tính hình tượng và tính cụ thể.
Phần lớn thành ngữ đồng nghĩa hoặc tương đương với một từ (danh từ, động từ, tính từ)”. Tóm lại, các nhà nghiên cứu đã trình bày những quan niệm của mình khi bàn về thành ngữ, họ đã cố gắng đƣa ra những khái niệm, những cách hiểu về thành ngữ dựa trên cơ sở phát hiện những đặc điểm thuộc tính của nó. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu tuy có những ý kiến khác nhau nhƣng chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất về thành ngữ nhƣ sau: Thành ngữ là cụm từ cố định, có kết cấu chặt chẽ, vần điệu, mang nghĩa biểu trưng và sử dụng tương đương với từ. Phân biệt thành ngữ và tục ngữ Cho đến ngày nay, việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ vẫn là vấn đề đang đƣợc quan tâm của các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.
Để xác định rõ ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ là điều không hề đơn giản. Đầu thế kỷ XIX, các nhà nghiên cứu văn học đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ, trong đó có công trình nghiên cứu Nam phong ngữ ngạn thi của Ngô Đình Thái, Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn của Huỳnh Tịnh Của (1897), Tục ngữ cách ngôn của Hàn Thái Dƣơng (1920),. Ngoài các công trình nghiên cứu trên, Dƣơng Quảng Hàm vẫn là ngƣời tiêu biểu cho vấn đề này. Trong cuốn sách Việt Nam văn học sử yếu (1943), Dƣơng Quảng Hàm (1996, tr.15) cho rằng: 11 “Một câu tục ngữ tự nó có ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảo điều gì.
Còn thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì đó cho màu mè. Theo ông, thành ngữ chỉ là một phƣơng tiện để diễn đạt ý tƣởng của ngƣời nói chứ không mang đầy đủ ý nghĩa nội dung nhƣ tục ngữ. Có một số nhà nghiên cứu văn học dân gian có cùng quan điểm với Vũ Ngọc Phan (1994, tr.38) trong Tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam (1978), cũng đồng ý với nhận định trên, bên cạnh đó ông còn trình bày thêm quan điểm của mình: “Định nghĩa như vậy không rõ, vì nếu thế, tác dụng của thành ngữ cũng không khác gì tác dụng của tục ngữ. Muốn diễn đạt một ý hay tả một trạng thái nào cho có màu mè, người ta cũng thường sử dụng tục ngữ vì tục ngữ là những câu đúc kết kinh nghiệm của nhiều người nó có ý nghĩa vững chắc.
Cần phải căn cứ vào nội dung mới có thể phân biệt được câu nào là thành ngữ và câu nào là tục ngữ”. Tác giả Vũ Ngọc Phan (1994, tr.36-37) còn đƣa ra ý kiến nhƣ sau: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là sự phê phán. Còn thành ngữ là một phần câu có sẵn, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người quen dùng nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn. Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh, còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh”.
Nhóm tác giả Lê Bá Hán và cs.297) trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học cũng trình bày: “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định, bền vững có tính nguyên khối về ngữ nghĩa không nhằm diễn trọn một ý, một nhận xét như tục ngữ mà nhằm thể hiện một quan niệm dưới một hình thức sinh động, hàm súc. Ví dụ: đen như cột nhà cháy, đẹp như tiên, vui như mở cờ trong bụng, xấu như ma lem, vắng ngắt như chùa Bà Đanh… Ý nghĩa của thành ngữ không phải là tổng số nghĩa của các thành tố cấu thành nó tức là không có “nghĩa đen”. Thành ngữ hoạt động như một từ trong câu”. Bên cạnh đó, trong bài viết Về ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ, số 3, Nguyễn Văn Mệnh (1972, tr.4) đã lƣu ý đến ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ.
Trong bài viết, tác giả dựa vào nội dung và hình thức ngữ pháp để phân biệt hai khái niệm này. Ông cho rằng, về mặt nội dung: “Thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một tính 12 cách, một thái độ”. Để vấn đề có tính xác thực, ông đƣa ra một số ví dụ minh họa cho định nghĩa: “Mềm như bún”, “Cao lêu nghêu như cò mồi”, “Nói hươu nói vượn”. Còn “Tục ngữ thì khác hẳn, nó không dừng lại ở mức độ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng như thành ngữ, mà đi đến một nhận định cụ thể, một kết luận chắc chắn, một kinh nghiệm sâu sắc, một lời khuyên răn, một bài học về tư tưởng đạo đức”(Nguyễn Văn Mệnh 1972, tr.
Ông cũng đƣa ra một số ví dụ: “Ác giả ác báo”, “Bói ra ma quét nhà ra rác”. Về hình thức: “Mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh. Tục ngữ thì khác hẳn, mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu”(Nguyễn Văn Mệnh (1972,tr. Nguyễn Văn Tu (1976, tr.185) trong cuốn Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, đã đƣa ra định nghĩa về thành ngữ: “Những thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất đi tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh.
Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố tạo ra. Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có. Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học”. Còn Cù Đình Tú (1973, tr.6) trong bài Góp ý kiến phân biệt thành ngữ và tục ngữ, ông đã dùng chức năng để phân biệt thành ngữ với tục ngữ.
Ông cho rằng: “Thành ngữ là những đơn vị ngôn ngữ có sẵn, mang chức năng định danh, nói khác đi dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động…”. Nhƣng trong cuốn Phong cách và đặc điểm tu từ tiếng việt, Cù Đình Tú (1994, tr.232) lại viết: “Thành ngữ vốn là những tổ hợp từ mang tính chất tự do, được nhiều người dùng, cùng tham gia sửa lỗi dần dần, gọt giũa dần dần trong trường kì lịch sử, cuối cùng trở thành những từ cố định”. Trong cuốn Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt, Nguyễn Thiện Giáp (1975, tr.77) viết: “Thành ngữ là những cụm từ cố định, vừa có tính hoàn chỉnh về ý nghĩa vừa có tính gợi cảm. Bên cạnh nội dung tu từ các thành ngữ bao giờ cũng kèm sắc thái bình giá, cảm xúc nhất định, hoặc là kính trọng tán thưởng, hoặc chê bai khinh rẻ, hoặc ái ngại xót thương”.
Cho nên, việc phân chia ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ của các tác giả đến nay vẫn chƣa có sự thống nhất.