mở đầu với công trình Dẫn luận phân tích tác phẩm tự sự của R. Đặc điểm của nhóm này là lấy ngôn ngữ học làm hình mẫu, xem tự sự học là sự mở rộng của cú pháp học, còn trữ tình là sự mở rộng của ẩn dụ. Với việc lấy G.Genette làm hình mẫu xem nguồn gốc của tự sự là dùng ngôn ngữ nói hay viết để biểu đạt nên vai trò của người trần thuật được coi là quan trọng bậc nhất. Vì vậy họ chú ý đến các yếu tố như điểm nhìn, giọng điệu… của người trần thuật.
Giai đoạn thứ ba của tự sự học gắn liền với kí hiệu học, một bộ môn quan tâm đến các phương thức biểu đạt ý nghĩa khác nhau, lấy văn bản làm cơ sở. Đại điện cho nhóm này như Gerald Prince và Seymour Chatman là những người coi trọng phương pháp nghiên cứu tổng thể hay dung hợp. Như vậy, có nhiều trường phái định nghĩa khác nhau về ngành tự sự học, nhưng tựu chung nội dung chính của ngành này là nghiên cứu cấu trúc văn bản tự sự và những vấn đề liên quan. Mỗi thời kì có sự phân tách cấu trúc tự sự theo khuynh hướng lưỡng phân Fabula/ Xiuzhet theo chủ nghĩa hình thức Nga đến xu hướng tam phân (G.Bal) thêm lớp “tự sự” (kể chuyện) hay xu hướng lưỡng phân hiện đại: histoire/ récit (chuyện/ kể, bản kể), story/ discours (chuyện/ lời kể), récit/ naration (bản kể, hành vi kể) nhưng tựu chung lại tự sự học phân biệt rõ giữa việc kể “cái gì” và “kể như thế nào”.
Chính những nghiên cứu này đã cho thấy: sự phức tạp của cấu trúc tự sự; vấn đề ý thức của chủ thể tự sự; kết cấu của tầng bậc trần thuật, loại hình cốt truyện…Hơn nữa, nghiên cứu tự sự học còn có ý nghĩa văn hoá rộng lớn vì tự sự học giúp hiểu rõ hơn mọi hình thức tự sự, nghệ thuật và phi nghệ thuật. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những điều này là cơ sở lý luận để chúng tôi khám phá việc chuyển thể tác phẩm văn học sang điện ảnh qua lăng kính tự sự ở hai góc nhìn: cốt truyện và nhân vật, để thấy rõ những điểm tương đồng và khác biệt, kế thừa và cách tân ở hai loại hình tự sự này. Liên văn bản (Intertextuality) là khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu trong nhiều ngành nghệ thuật sử dụng để nói về mối quan hệ qua lại, tác động của những tác phẩm nghệ thuật. Một cách khái quát, người ta chia làm hai loại liên văn bản: kinh điển và hậu hiện đại.
Theo quan điểm kinh điển được biểu hiện bởi sự liên hệ trực tiếp giữa văn bản này với văn bản khác (thiên về hình thức). Ví như việc sử dụng chú thích trong các bài nghiên cứu Truyện Kiều lấy các sự kiện, hình ảnh nào; hoặc như việc ghi rõ nguồn tài liệu gốc trong các bài nghiên cứu khoa học nói chung và văn học nói riêng. Nếu nhìn ở góc độ này, liên văn bản bị bó hẹp cực kỳ trong nội dung và hình thức vận dụng, đó chẳng khác gì người sau chỉ làm công việc vay mượn sao chép chứ không có tính sáng tạo khi vận dụng. Cho đến những nhà nghiên cứu lý luận hậu hiện đại, đại diện tiêu biểu là Jacques Derrida, Roland Barthes và Julia Kristeva – những lý thuyết gia tiên phong trong trào lưu giải cấu trúc và phê bình hậu hiện đại đã chỉ ra mỗi văn bản không chỉ tồn tại trong câu chữ hay tác phẩm văn học đó, mỗi văn bản khi đã bắt đầu, nhờ tính chất liên văn bản sẽ tạo ra một chuỗi dây chuyền để làm nên nhiều văn bản khác.
Khái niệm này trong văn học về cơ bản có thể hiểu: chiều ngang (chủ thể – người tiếp nhận) và chiều dọc (văn bản – văn cảnh) được xuất hiện không chỉ trong tác phẩm gốc mà có sự liên kết trong nhiều tác phẩm khác nhau, thậm chí là các ngành nghệ thuật khác nhau. Cho nên liên văn bản không những kết hợp, trộn lẫn mà còn xoá đi ranh giới của các thể loại. Ví như vẫn trên đề tài chiến tranh nhưng lịch sử tái hiện qua truyền hình khác, qua phim ảnh lại dựa từ lịch sử mà có sự thay đổi và âm nhạc, mỹ thuật, văn học cũng có điểm khác biệt dù có khi vay mượn 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của nhau. Vì vậy khái niệm liên văn bản trong trào lưu hậu hiện đại sẽ dẫn đến những cách đọc hiểu văn bản khác nhau, mới và lạ hơn.
Bởi văn bản ấy không thuần tuý chỉ là văn bản gốc, bị giới hạn trong thể loại mà nó hoà lẫn rất nhiều những yếu tố lịch sử văn hoá cũng như ảnh hưởng bởi loại hình nghệ thuật khác. Một kịch bản điện ảnh được chuyển thể từ tác phẩm văn học là một ví dụ điển hình cho việc xoá nhoà đi biên cương của văn bản. Cải biên (Adaptation) cũng là một dạng của liên văn bản, trong đó khai thác, sàng lọc những yếu tố cơ bản của tác phẩm gốc để sáng tạo ra một sản phẩm mới. Đó là việc chuyển từ cách đọc này sang cách đọc khác, từ tác phẩm văn học là sản phẩm của ngôn từ sang điện ảnh là sự kết hợp của nhiều yếu tố.
Dĩ nhiên, cải biên không phải là sao chép nguyên xi mà là sự học hỏi có sáng tạo trên cái gốc là tác phẩm văn học để tạo ra một tác phẩm điện ảnh có giá trị. Trong kho tàng đồ sộ của sử thi, truyền thuyết, thần thoại, tiểu thuyết, truyện ngắn,… mà văn học đã dày công vun trồng qua bao thế hệ, nhà làm phim hẳn đã nắm bắt được những câu chuyện hay, phát hiện ra những hình tượng nhân vật đặc sắc để tạo dựng nên những thước phim kinh điển. Cũng nhờ vậy những tác phẩm văn học cổ điển và nhân vật trở nên sống động hơn, gần gũi hơn. Đến nay, nhiều tác phẩm điện ảnh kinh điển được ra đời từ chính mối giao duyên với văn học như: bản anh hùng ca Iliát và Ôđixê, Thần thoại Hy Lạp, Nghìn lẻ một đêm… cho đến những câu chuyện chứa đựng tinh thần nhân văn cao cả trong truyện cổ tích của anh em nhà Grim, truyện cổ Andersen hay những tác phẩm văn học kinh điển thế kỷ 18 đến nay cũng trở thành nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với điện ảnh.
Khán giả không thể quên Chiến tranh và hoà bình (Lev Nikolayevich Tolstoy, 1865), Kiêu hãnh và định kiến (Jan Austen, 1813), Cuốn theo chiều gió (Margaret Mitchell, 1936), Bố già (Mario Puzo, 1969), Giết con chim nhại (Harper Lee, 1960), Bay trên tổ chim cúc cu (Ken Kesey,1962)… Hay 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đạo diễn nước láng giềng Trung Hoa cũng sớm khai thác cánh đồng văn học vô tận của dân tộc để tạo nên những bộ phim kinh điển từ Tam Quốc diễn nghĩa (La Quán Trung), Thuỷ Hử (Thi Nại Am), Tây du ký (Ngô Thừa Ân), Hồng lâu mộng (Tào Tuyết Cần)… Về sau, sự xuất hiện của nhà văn Kim Dung – cây bút tiểu thuyết kiếm hiệp xuất sắc đã tạo dựng mảnh đất màu mỡ cho các nhà làm phim khai thác như: Thần điêu đại hiệp, Lộc đỉnh ký, Anh hùng xạ điêu, Tiếu ngạo giang hồ, Ỷ thiên đồ long ký… Gần đây, những tác phẩm văn học hiện đại sau khi được độc giả đón nhận nồng nhiệt dường như cũng gây sự chú ý của nhà làm phim, và chẳng bao lâu, những bộ phim bom tấn hút khách lại được sản sinh ra từ những tác phẩm best-seller như: bộ truyện Harry Potter (J.Rowling, xuất bản từ 1997 đến 2007), bộ phim Life of Pi (Jann Martel), bộ tiểu thuyết năm phần The Twilight Saga (Chạng vạng, Trăng non, Nhật thực, Hừng đông I&II) của nữ nhà văn Anh Stephenie Meyer… Điện ảnh Việt Nam cũng không nằm ngoài sức hút của điện ảnh thế giới. Chẳng bao lâu ngay sau khi điện ảnh được du nhập vào Việt Nam là xuất hiện ngay mối tương tác giữa văn học và điện ảnh. Trong các bộ phim đầu tiên của nước ta sản xuất vào những năm 20 của thế kỷ trước như Kim Vân Kiều (1923) do công ty Chiếu bóng Đông Dương thực hiện cũng được chuyển thể từ Truyện Kiều nổi tiếng của đại thi hào Nguyễn Du. Những sự gắn bó, giao thoa, phối hợp giữa văn học và điện ảnh trong buổi ban đầu của nước ta trước 1945 là tiền đề quan trọng để mối quan hệ này càng gắn bó, phát triển trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Về sau, các nhà làm phim không chỉ khai thác cốt truyện mà còn xây dựng thành công hình tượng nhân vật trong mỗi tác phẩm văn học. Sau khi phim Chung một dòng sông (1959) ra đời từ kịch bản Tình không giới tuyến (Cao Đình Báu), một năm sau điện ảnh lại đón nhận bộ phim Vật kỷ niệm được chuyển thể từ truyện ngắn Vật kỷ niệm của người đã mất (Cường Tráng – Văn Ngữ). Người xem khó lòng quên 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cô Mị (diễn viên Đức Hoàn) trong bộ phim do chính nhà văn Tô Hoài chuyển thể kịch bản từ tác phẩm cùng tên Vợ chồng A Phủ (1961) hay cô gái bé nhỏ nhưng anh dũng trong Chim vành khuyên (1962) dựa theo truyện ngắn Câu chuyện về một bài ca của tác giả Nguyễn Văn Thông. Hai trong ba phim sản xuất năm 1963 cũng dựa theo tác phẩm văn học: phim Câu chuyện quê hương dựa theo truyện ngắn Chị Mẫn, Đêm đông và Con trâu bạc của các nhà văn Bùi Hiển, Chu Văn, Nguyễn Tiến Thuyết; còn phim Chị Tư Hậu là dựa theo tiểu thuyết Một chuyện chép ở bệnh viện của nhà văn Bùi Đức Ái… Theo một thống kê, trong 130 phim truyện nhựa do Việt Nam sản xuất từ năm 1959 đến 1980 có đến 14 phim hoặc là dựa theo, hoặc là phỏng theo, hoặc là cải biên từ tiểu thuyết, truyện ngắn; có 16 phim hoặc là dựa theo kịch bản sân khấu, hoặc là phim sân khấu, bao gồm cả cải lương, chèo, tuồng và cả kịch nói.