chương 1 để tìm hiểu những vấn đề đó và rút ra những nét so sánh cơ bản về hai loại hình nghệ thuật này. Bản chất của văn học. Thuật ngữ văn học: Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, nó là một “sản phẩm thẩm mỹ độc đáo nảy sinh trong quá trình sáng tạo theo quy luật cái đẹp” [5; 13]. Phương tiện phản ánh hiện thực của nghệ thuật chính là các hình tượng nghệ thuật.
Hơn 2000 năm trước đây Arittốt, nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã chú ý đến đặc trưng nổi bật của nghệ thuật là sự “mô phỏng tự nhiên”, bao hàm việc tái hiện cuộc sống bằng hình tượng. Nhưng mỗi loại hình nghệ thuật có cách “mô phỏng tự nhiên khác nhau”, nó được quy định bởi chất liệu của loại hình. Đặc trưng của mỗi loại hình nghệ thuật, xét đến cùng, là bắt nguồn từ chất liệu của nó. Và người ta đã đưa ra những khái niệm về thuật ngữ văn học cũng chính từ nhân tố này.
Nếu chất liệu của hội hoạ là màu sắc và đường nét, của âm nhạc là tiết tấu và âm thành, của vũ đạo là hình thể và động tác, … tức đều tồn tại dưới trạng thái vật chất thì chất liệu của văn học là ngôn từ. “Văn học là nghệ thuật ngôn từ” [ 6; 377], hay văn học là “loại hình nghệ thuật sáng tạo bằng ngôn từ” [11; 275]. Như vậy văn học lấy ngôn từ làm chất liệu để phản ánh đời sống xã hội và thể hiện sự nhận thức và sáng tạo của con người. Tuy nhiên cần phải thấy rõ tính đặc thù của chất liệu nghệ thuật ngôn từ.
Chất liệu của các loại hình nghệ thuật khác, xét cho cùng, đều do thiên nhiên cung cấp cho người nghệ sĩ, đó là gỗ, đá, kim loại, sơn màu, âm thanh và cả cơ thể con người để tạo nên các tác phẩm điêu khắc, kiến trúc, hội hoạ, vũ đạo… nhưng chất liệu của văn học thì hoàn toàn do con người tạo ra. Đó là ngôn ngữ, hay nói cách khác là ngôn từ. Những từ ấy tồn tại một cách khách quan trong đời sống hàng ngày. Letssing đã phân biệt chính xác khi cho rằng hội hoạ sử dụng “các vật thể và màu sắc tồn tại trong không gian làm phương tiện và ký hiệu, còn thơ ca thì sử dụng âm thanh phát ra từ tiếng lần lượt trong không gian”.
Bởi vậy, nếu chúng ta không biết thứ ngôn ngữ viết trong tác phẩm văn học thì chúng ta sẽ không thể nào hiểu được nội dung của nó. Bản chất xã hội lịch sử của văn học với tư cách là hình thái ý thức xã hội đặc thù được xác định bằng các khái niệm như “tính hiện thực”, “tính nhân loại”, “tính giai cấp”, “tính tư tưởng”, “tính khuynh hướng”, “tính Đảng”, “tính nhân dân”… Nhưng văn học khác với các hình thái ý thức xã hội như chính trị, triết học, đạo đức… còn ở đối tượng nhận thức và nội dung của nó. Văn học là sự phản ánh của đời sống nên văn học lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm. Văn học nhận thức con người trong tính tổng hợp, toàn vẹn, sống động trong các mối quan hệ đời sống phong phú và phức tạp của nó trên các phương diện thẩm mỹ.
Trong các tác phẩm văn học, nhà văn không chỉ đưa ra những nhận thức khách quan mà còn bộc lộ tư tưởng, tình cảm, ước mơ, khát vọng của mình đối với con người và cuộc sống. Do đó “nội dung của văn học là sự thống nhất biện chứng giữa phương diện chủ quan và phương diện khách quan” [11 ; 276]. Đối tượng và nội dung đặc thù đòi hỏi văn học phải có phương thức chiếm lĩnh và biểu đạt riêng, đó là hình tượng nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật làm cho văn học gần gũi với các loại hình nghệ thuật khác.
Tuy nhiên do mỗi loại hình sử dụng một chất liệu khác nhau nên hình tượng của chúng có những điểm riêng biệt. Tóm lại, văn học là nghệ thuật ngôn từ, thứ nghệ thuật có những hình tượng không trực tiếp trông thấy, nghe thấy được mà chỉ hiện lên trong trí tưởng tượng của chúng ta. Với tất cả những khả năng kỳ diệu của mình, ngôn từ đã đem lại cho văn học những đặc trưng độc đáo, giúp khu biệt văn học với các loại hình nghệ thuật và các hình thái ý thức xã hội khác. Đặc trưng của ngôn ngữ văn học: 1.
Tính “phi vật thể” của hình tượng ngôn từ: Do lấy ngôn từ làm chất liệu nên văn học gắn với kiểu hình tượng “phi vật thể”, có khả năng tác động vào trí tuệ, vào liên tưởng của con người. Sở dĩ có thể xây dựng được hình tượng nghệ thuật đặc biệt như vậy vì các từ, hay nói đúng hơn là sự kết hợp của các từ có khả năng chỉ ra hoặc làm cho người đọc nhớ đến bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào trong giới tự nhiên, xã hội và ý thức con người. Văn học khác với các loại hình nghệ thuật khác ở chỗ các hình tượng của nó không được cảm thụ trực tiếp bằng các giác quan: Thị giác, thính giác… Chúng ta có thể trực tiếp nhìn thấy bức tranh Người đàn bà xa lạ, nghe điệu nhạc Sông Danube xanh, tận mắt thấy điệu múa Champa, tháp Ép phen… nhưng với các tác phẩm văn học thì không thể, bởi ngôn ngữ - chất liệu đặc thù của nó - không phải là vật chất hay vật thể, đó chỉ là những ký hiệu của nó mà thôi. Khi đọc hoặc nghe một tác phẩm văn học, chúng ta không nhìn thấy trực quan cái mà nhà văn mô tả, nhưng nhờ vào sức mạnh của trí tưởng tượng mà dường như chúng ta tái tạo lại được các hình tượng, biểu tượng mà văn bản chỉ ra.
Bởi vậy các hình tượng văn học mới có tính “phi vật thể” như Lessing đã diễn đạt trong sách Laokoon. Khi nàng Kiều bị Hồ Tôn Hiến bắt “thị yến dưới màn”, ép nàng gẩy đàn mua vui, Nguyễn Du đã miêu tả tiếng đàn của Kiều như sau: “Một cung gió tủi, mưa sầu Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay! Ve ngâm, vượn hú, nào tày, Lọt tai, Hồ cũng nhăn mày, rơi châu” (Truyện Kiều) Hiển nhiên là chúng ta có thể nghe thấy ngữ âm và tự dạng của những câu thơ ấy. Nhưng bóng dáng của Kiều, và điệu đàn “muôn oán, nghìn sầu” thì tịnh không nghe thấy gì cả. Song những ngôn từ đó sẽ tác động vào trí não của chúng ta, làm cho chúng ta “nghe thấy” được một cách gián tiếp qua trí tưởng tượng.
Các hình tượng văn học tuy thiếu tính trực quan nhưng lại được bù bằng những khả năng độc đáo khác. Nhà văn có thể tái tạo các phương diện hiện thực để người đọc có thể cảm nhận bằng mọi giác quan. Về mặt này các ý định của B. Pasternac nhằm đưa vào thơ “hơi thở của hoa hồng, hơi thở của bạc hà, của bãi cỏ xanh, dao cắt cỏ, tiếng sấm cơn dông” là rất có ý nghĩa [ 4; 74 ].
Bằng chất liệu ngôn từ, nhà văn không những tái tạo được những cái hữu hình mà còn tái tạo được cả những cái vô hình, những cái mỏng manh, mơ hồ nhất mà các loại hình nghệ thuật khác phải bất lực. Nhà thơ Đoàn Phú Tứ đã từng tái hiện sinh động màu sắc và hương vị của thời gian qua tâm trạng hoài niệm: “Màu thời gian không xanh Màu thời gian tím ngát Hương thời gian không nồng Hương thời gian thanh thanh”. (Màu thời gian) Dưới tác động “ma thuật” của nghệ thuật ngôn từ, đắm mình vào thế giới của các biểu tượng biến hoá khôn lường mà văn bản ghi lại, người đọc đã trở thành người đồng sáng tạo với nhà văn trong quá trình tham gia xây dựng nên các hình tượng nghệ thuật. Như vậy tính “phi vật thể” của hình tượng nghệ thuật là một đặc tính nổi bật khác biệt giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác.
Nhờ có đặc tính này mà các nhà văn không chỉ miêu tả được hiện thực đa dạng, muôn màu của cuộc sống mà còn có thể đi sâu vào thế giới bên trong của hiện thực, mở ra chân trời tưởng tượng của thế giới nội tâm phong phú của con người. Khả năng miêu tả, thâm nhập vào đời sống tâm lý, tình cảm của con người: Khách thể của văn học là “vương quốc bất tận của tinh thần”. Chính ngôn từ, cái vỏ của tư duy, đã giúp văn học khám phá, đi sâu vào “vương quốc bất tận” đó với những suy tư phức tạp, những rung động tế vi của lòng người: “Mới đọc được mươi dòng chị giận giữ tưởng như có thể xé vụn từng mảnh được, người ta coi thường chị đến thế ư? Nhưng khi gập lá thư lại thì một cảm giác êm đềm cứ lan nhanh ra như mạch nước ngọt rỉ thấm vào những thớ đất khô cằn vì nắng hạn, một nỗi vui sướng kỳ lạ dào dạt không thể nén lại nổi khiến người chị ngây ngất, muốn cười to một tiếng, nhưng trong mi mắt lại như đã mọng đầy nước chỉ định trào ra”. Đó là tâm trạng của nhân vật Đào - một người phụ nữ nhan sắc kém mặn mà, bất hạnh trong cuộc sống - khi nhận được lá thư của ông Trung đội trưởng già phụ trách lò gạch trong truyện ngắn Mùa lạc của nhà văn Nguyễn Khải.
Có lẽ không có loại hình nghệ thuật nào có thể lột tả được hết những cảm giác vô hình ấy trong lòng người như văn học. Âm nhạc trữ tình cố nhiên cũng đi sâu vào lòng người nhưng là trên những cảm xúc và rung động ít nhiều trừu tượng. Chỉ cần một xúc cảm, một tâm trạng, một suy nghĩ của con người trước cuộc sống cũng đủ để nhà văn có thể tạo nên những bức tranh sinh động, cụ thể về hiện thực. Đây cũng chính là một thế mạnh của văn học với tư cách là một loại hình nghệ thuật bằng ngôn từ, và cũng là lãnh địa “thử bút” của các nhà văn, nhà thơ, giúp họ làm nên tên tuổi.
Khả năng chiếm lĩnh và xử lý không gian, thời gian. Các loại hình nghệ thuật chiếm lĩnh hiện thực trong các chiều không gian, thời gian của nó một cách khác nhau. Chẳng hạn hội hoạ và điêu khắc miêu tả các sự vật một cách tĩnh tại, chớp lấy một khoảnh khắc nhất định của đối tượng và biểu hiện nó trong tương quan về không gian.