phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của Luận án gồm: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Chƣơng 2: Quá trình chuyển đổi ngôn ngữ từ tác phẩm văn học “Chí Phèo” sang tác phẩm điện ảnh Chƣơng 3: Quá trình chuyển đổi ngôn ngữ từ tác phẩm văn học “AQ chính truyện” sang tác phẩm điện ảnh 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Để tìm hiểu quá trình chuyển thể từ một tác phẩm văn học sáng tác phẩm điện ảnh, trƣớc hết cần phân tích các đặc trƣng ngôn ngữ của tác phẩm văn học và ngôn ngữ của tác phẩm điện ảnh. Về những vấn đề này, trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam đã có một số công trình đáng chú ý. Nhìn khái quát, có thể hình dung nhƣ sau: 1.1 Một số nghiên cứu về ngôn ngữ văn học 1.1 Nghiên cứu về ngôn ngữ văn học trên thế giới Nhà văn Nga Gorki đã từng nói: ―Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống là chất liệu của văn học‖. Rõ ràng, không có ngôn ngữ thì không có văn học.
Ngôn ngữ không chỉ có chức năng là ―công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con ngƣời‖ (V.Lênin) là công cụ của tƣ duy, là ―hiện thực trực tiếp của tƣ tƣởng‖ (K. Mác), ngôn ngữ còn có chức năng thẩm mỹ, chức năng nghệ thuật. Chính nhờ các chức năng này, ngôn ngữ giúp các nhà văn tạo nên tác phẩm văn học. ―Văn học là nghệ thuật ngôn từ‖.
Vì vậy, nghiên cứu văn học không thể không nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm với tƣ cách là phƣơng tiện biểu hiện, là mặt hình thức của tác phẩm. Việc nghiên cứu ngôn ngữ văn học dựa trên những lý thuyết của ngôn ngữ học hiện đại bắt đầu từ quan điểm của F.Saussure, chủ nghĩa hình thức Nga, lý luận phê bình mới của Anh – Mỹ, hậu cấu trúc luận, các nghiên cứu đã tiến hành phân tích những hiện tuợng ngôn ngữ xuất hiện trong các tác phẩm văn học. Trƣờng phái cấu trúc luận đƣợc xây dựng trên ba nền tảng cơ bản. Nền tảng đầu tiên là lý thuyết ngôn ngữ của F.Saussure (1857-1913), với tƣ cách là một hệ thống, ngôn ngữ thực chất là những ký hiệu, mỗi ký hiệu là một kết hợp gồm hai mặt, cái biểu đạt (signifier) và cái đƣợc biểu đạt (signified), gắn với nhau bằng một thứ quan hệ rất tƣơng đối, và ý nghĩa đƣợc hình thành từ những 8 sự khác biệt giữa các ký hiệu.
Nền tảng thứ hai là các phát hiện mới của nhóm ngôn ngữ học Praha trong đó nổi bật nhất là Roman Jakobson với đề xuất cách định nghĩa thơ dựa trên các chức năng giao tiếp. Nền tảng thứ ba là Claude Levi-Strauss với các công trình nghiên cứu nhân chủng học về huyền thoại, hệ thống thân tộc, cách tƣ duy trong các xã hội sơ khai… Ðƣợc xây dựng trên nhiều nền tảng nhƣ vậy nên với các nhà cấu trúc luận, nghiên cứu văn học chỉ là một lĩnh vực của hệ thống ký hiệu học rộng lớn và đa dạng [93]. Nhìn chung chủ nghĩa cấu trúc đặc biệt quan tâm đến mối các quan hệ giữa các yếu tố của cấu trúc hơn là bản thân các yếu tố đó. Có thể nói rằng, tất cả những biện pháp mà chủ nghĩa cấu trúc vận dụng thƣờng tập trung vào phân tích hệ thống những quan hệ của các yếu tố tạo thành chỉnh thể nghệ thuật, trong đó bao gồm cả việc mô hình hoá một văn bản riêng biệt hay cấu trúc nghệ thuật của một nhóm tác phẩm, thậm chí của cả một trào lƣu, một thời đại văn hoá.
Nghiên cứu ngôn ngữ văn học đƣợc các nhà ngôn ngữ thuộc trƣờng phái hình thức Nga chú ý từ đầu 1910, với các đại diện Shklovksy, Boris Eikhenbaum hay Yury Tynyanov và các nhà ngữ học nhƣ Roman Jakobson, Lev Yakubinsky… Quan điểm cơ bản của họ là đề cao tính tự trị của văn học, cho rằng nghiên cứu văn học, nhƣ một khoa học, cần tập trung vào chính bản thân văn học, tức cấu trúc tác phẩm, ngôn ngữ tác phẩm [88]. Những đóng góp của các nhà chủ nghĩa hình thức Nga có ý nghĩa cực kỳ to lớn cả lý thuyết lẫn thực tiễn đối với việc nghiên cứu nghệ thuật nói riêng và ngôn ngữ văn học nói chung. Vào khoảng cuối thập niên 1960 xuất hiện trào lƣu hậu cấu trúc luận hay giải cấu trúc - đƣợc coi là mang tính đột biến của cấu trúc luận. Có nhiều lí thuyết đƣa đến tƣ tƣởng giải cấu trúc.
Đầu tiên, với chủ nghĩa đối thoại của nhà tƣ tƣởng Nga M. Bakhtin (1929, 1963), ông cho rằng trong tiểu thuyết đa thanh, tác giả không phải là ngƣời quyết định tƣ tƣởng của tác phẩm, cái quyết định là quan hệ đối thoại của các nhân vật, bởi vì mỗi nhân vật tồn tại nhƣ một nhà tƣ tƣởng. Tác giả cũng chỉ là ngƣời tổ chức đối thoại mà thôi. Thứ hai, nhà 9 triết học Pháp Jacques Derrida trong công trình Of Grammatology (Về văn từ học) đƣợc công bố năm 1967 nhận định, một cái biểu đạt không nhất thiết dẫn đến một cái đƣợc biểu đạt tƣơng ứng mà thƣờng dẫn đến những cái biểu đạt khác, nhƣ vậy chúng ta sẽ không bao giờ vƣơn tới đƣợc cái đƣợc biểu đạt cuối cùng mà bản thân nó lại không phải là một cái biểu đạt của một cái gì khác.
Ba là lí thuyết hành vi ngôn ngữ của nhà ngữ học Anh J. Austin, tiếp đó là lí thuyết liên văn bản đƣợc phát triển bởi Kristeva, Bloom… Đặc biệt trong chủ nghĩa giải cấu trúc có Michel Foucault với một khái niệm có ảnh hƣởng sâu rộng trong ngôn ngữ học là khái niệm diễn ngôn (discourse) [96]. Cùng với việc áp dụng các lý thuyết ngôn ngữ học để giải mã văn bản nghệ thuật, hƣớng nghiên cứu ngôn ngữ văn học trên thế giới đã hình thành các khung lý thuyết khác nhau, từ chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hình thức, đến chủ nghĩa hậu cấu trúc. Mỗi khung lý thuyết có những ƣu điểm và nhƣợc điểm đã đƣợc minh chứng qua hàng thập kỷ.
Bức tranh nghiên cứu ngôn ngữ văn học trở nên đa dạng, đầy màu sắc, kết nối hài hòa giữa văn học và ngôn ngữ học.2 Nghiên cứu về ngôn ngữ văn học tại Việt Nam Ở Việt Nam, từ những năm 1960, nghiên cứu ngôn ngữ văn học đƣợc thể hiện trong các tác phẩm nghiên cứu về tu từ học, về sau là phong cách học. Đến cuối thế kỷ XX, bắt đầu có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu với tƣ cách là sách chuyên đề hay sách chuyên khảo nhƣ: Phong cách học tiếng Việt [62], Phong cách học tiếng Việt hiện đại [24], Văn thơ Việt Nam dưới ánh sáng của ngôn ngữ học [16], Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt [110]… Các công trình đi sâu vào nghiên cứu vai trò, đặc trƣng của ngôn ngữ trong các sáng tác văn chƣơng bao gồm ngôn ngữ nghệ thuật [47], đặc điểm ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ hội thoại, độc thoại nội tâm của các nhân vật [52], ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ kể chuyện của nhà văn [102]… Riêng công trình Các vấn đề của ngôn ngữ nghệ thuật [22], tác giả Hữu Đạt đã khảo cứu và phân tích chi tiết các đặc trƣng ngôn ngữ của từng thể loại văn học, đồng thời đƣa ra miêu tả một cách hệ thống các kiểu loại văn chƣơng. Tuy đi vào từng lĩnh vực cụ thể nhƣng 10 các công trình nêu trên đều có điểm chung là bàn đến các đặc trƣng của ngôn ngữ và cấu trúc của tác phẩm văn học theo từng thể loại. Từ góc độ nghiên cứu văn học, với cách nhìn của nhà thi pháp, Trần Đình Sử cũng đã hết sức chú ý đến mối quan hệ quan hệ giữa nghiên cứu văn học và ngữ học.
Ông cho rằng ngày nay, cả ngữ học và văn học đều có sự đổi thay về hệ hình nghiên cứu, cơ hội gắn bó giữa hai thể loại đƣợc gia tăng. Nhà nghiên cứu văn học lại quan tâm đến diễn ngôn, kí hiệu học, tu từ học, biểu tƣợng, hƣớng đến nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật, xem xét cách tái mã hóa, cách lập mã và giải mã trong văn học. Đây cũng đƣợc xem là những định hƣớng nghiên cứu mới đối với lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ văn học hiện nay. [97, 15-22] Nhƣ vậy, qua những phân tích trên, có thể cho phép khẳng định rằng, hƣớng nghiên cứu ngôn ngữ văn học hiện nay dần đƣợc mở rộng và đặt trong mối quan hệ liên ngành không chỉ với ngôn ngữ học, ký hiệu học mà còn cả các ngành nghệ thuật khác.
Việc nghiên cứu chuyển đổi ngôn ngữ từ tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh dù trực tiếp hay gián tiếp cũng sẽ đƣợc kế thừa các kết quả nghiên cứu, phân tích dữ liệu của ngôn ngữ văn học. Một số nghiên cứu về ngôn ngữ điện ảnh Điện ảnh là loại hình nghệ thuật đặc biệt, là ―nghệ thuật của nghệ thuật‖. Theo nghĩa rộng, thuật ngữ ―ngôn ngữ điện ảnh‖ bao gồm cả tạo hình, hóa trang, góc quay… Bởi vậy, nghiên cứu ngôn ngữ điện ảnh theo cách nhìn của ngôn ngữ học sẽ hẹp hơn nhiều so với thuật ngữ vừa nói tới. Nghiên cứu về ngôn ngữ điện ảnh trên thế giới Những nghiên cứu đầu tiên về ngôn ngữ điện ảnh theo cách nhìn của ngôn ngữ học là các nghiên cứu của các nhà chủ nghĩa hình thức Nga và Đông Âu.
Ngay trƣớc khi ngành điện ảnh hiện đại ra đời (thời phim câm - phim chƣa có âm thanh lời nói), họ đã bắt đầu nghiên cứu các yếu tố cấu thành tự sự điện ảnh. Công việc này đƣợc thực hiện bởi một nhà nghiên khá nổi tiếng của nhóm chủ nghĩa hình thức Nga B. Cho đến nay, có thể khái quát quá trình nghiên cứu ngôn ngữ điện ảnh thành ba giai đoạn sau: 11 a) Giai đoạn 1: từ năm 1895 đến những năm 60 của thế kỷ XX Giai đoạn này kéo dài khoảng hơn nửa thế kỷ, thƣờng đƣợc các nhà nghiên cứu gọi là lịch sử phát triển của ngôn ngữ điện ảnh. Astruc cho rằng điện ảnh là một loại ngôn ngữ đặc biệt, giống nhƣ cây bút trong tay nhà văn, có thể tự do bày tỏ tƣ tƣởng, tình cảm và ý niệm của cá nhân.
Tƣ tƣởng đó đƣợc thể hiện rất rõ trong bài viết ―Máy quay cây bút‖ (la camera-stylo) công bố năm 1948 [127,17-23]. Ở đây, tác giả nhấn mạnh đến vai trò của ngƣời quay phim. Ngôn ngữ điện ảnh đƣợc hiểu là các phƣơng pháp nhằm thể hiện hình tƣợng bằng hình ảnh.