phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần nội dung chính của luận văn gồm 03 chương, như sau: Chƣơng 1: một số vấn đề lý luận về năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã. Chƣơng 2: thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Chƣơng 3: quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của Văn phòng - Thống kê cấp xã trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. 9 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG – THỐNG KÊ CẤP XÃ 1.
Những vấn đề chung về công chức Văn phòng – Thống kê 1. Khái niệm công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã - Khái niệm công chức: công chức là một khái niệm mang tính lịch sử, được sử dụng khá phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, đồng thời phản ánh đặc trưng riêng của nền công vụ ở mỗi quốc gia. Tùy thuộc vào đặc điểm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và chính sách của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể mà nội dung của khái niệm công chức được hiểu theo nhiều cách khác nhau. + Ở Pháp, công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức bao gồm cả trung ương, địa phương [20].
+ Ở Trung Quốc, khái niệm công chức được hiểu là những người công tác trong cơ quan hành chính các cấp, trừ nhân viên phục vụ, bao gồm công chức lãnh đạo và công chức nghiệp vụ. Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực nhà nước, được bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều hành của Hiếp pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp. Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do các cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức, chiếm tuyệt đại đa số trong công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật [20]. + Ở Nhật Bản, công chức được phân thành hai loại chính, gồm công chức nhà nước và công chức địa phương.
Công chức nhà nước gồm những người được nhận chức trong bộ máy của Chính phủ trung ương, ngành tư 10 pháp, quốc hội, trường công và bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp quốc doanh được lĩnh lương của ngân sách nhà nước. Công chức địa phương là những người làm việc và lĩnh lương từ tài chính địa phương [20]. Nhìn chung, các nước trên thế giới có nhiều điểm chung cơ bản giống nhau trong quan niệm về công chức, mặt khác do truyền thống văn hóa, xã hội, do đặc điểm chính trị, kinh tế nên mỗi nước có những điểm riêng. + Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành, phát triển gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nước.
Công chức là “những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định [22]. “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương; ở trong nước hay ngoài nước; đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức”[22]. “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công dân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”[22]. 11 - Khái niệm công chức cấp xã: Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành và gắn liền với sự hình thành, phát triển ngày càng hoàn thiện của nền hành chính nhà nước.
Khái niệm công chức lần đầu tiên được nêu ra trong Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Quy chế công chức như sau: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định". Cùng với sự phát triển của đất nước, khái niệm công chức dần được quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn. Tuy nhiên, các khái niệm này vẫn chưa phân định rõ ràng ai là cán bộ, ai là công chức. Đến năm 2008, Quốc Hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12.
Đây là bước tiến mới, mang tính cách mạng về cải cách chế độ công vụ, công chức, thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng về công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Điều 4, Khoản 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, xác định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, thuộc đơn vị Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị công lập) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm 12 từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Tại khoản 3, Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [22] và được chia thành 7 loại: Trưởng công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dựng - Đô thị và Môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính -Nông nghiệp - Xây dựng và Môi trường (đối với xã); Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa - Xã hội [9]. Như vậy, công chức Văn phòng – Thống kê là những người nằm trong bộ máy quản lý hành chính đó và là một trong các chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã trực tiếp quản lý.
- Khái niệm Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã: Văn phòng - Thống kê cấp xã là bộ phận giúp việc của Ủy ban nhân dân xã, không có Chánh Văn phòng như cấp tỉnh, cấp huyện. Văn phòng – Thống kê cấp xã do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã trực tiếp quản lý, chỉ đạo, chủ yếu là hoạt động văn phòng. Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã là một bộ phận rất quan trọng trong đội ngũ công chức cấp xã, trực tiếp tham mưu cho Ủy ban nhân dân xã tổ chức thực hiện các hoạt động hành chính ở địa phương, là những người hằng ngày tiếp xúc trực tiếp với nhân dân để tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giải quyết các vấn đề liên quan đến đời sống của nhân dân. Do đó, phải đáp ứng được các yêu cầu về phẩm chất, năng lực và trình độ theo quy định đối với công chức.
Như vậy, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã là những người nằm trong bộ máy quản lý hành chính và là một trong các chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã 1. Nhiệm vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã 13 Theo quy định của pháp luật, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã có nhiệm vụ tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong các lĩnh vực: văn phòng, thống kê, tổ chức, nhân sự, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc và thanh niên trên địa bàn theo quy định của pháp luật [9]. Trên cơ sở thực tiễn hoạt động của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã trong công tác tham mưu cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý nhà nước, được cụ thể như sau: Một là, xây dựng và theo dõi việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, lịch làm việc định kỳ và đột xuất của HĐND, Thường trực HĐND, UBND, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ thực tế, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã chủ động tham mưu xây dựng chương trình, kế hoạch công tác hàng tháng, quý, hàng tuần, trình ký phê duyệt, ban hành.
Bên cạnh đó, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã có trách nhiệm giúp Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện, đôn đốc các bộ phận công tác triển khai, theo dõi tiến độ thực hiện, tổng hợp tình hình, báo cáo và tổ chức cuộc họp sơ kết, tổng kết thực hiện chương trình, kế hoạch.