CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 1. Lý thuyết hành động xã hội Weber được xem là nhà xã hội học đầu tiên khởi xướng quan điểm hành động xã hội. Theo ông, đối tượng đích thực của xã hội học là hành động xã hội.
Ông nói: "Xã hội học. là một khoa học cố gắng hiểu theo kiểu diễn giải hành động xã hội để bằng cách đó đạt tới việc giải thích nhân quả về chuỗi hành động và tác động của nó. Hành động là hành vi con người khi và chỉ trong chừng mực khi cá nhân đang hành động gắn một ý nghĩa chủ quan vào đó" (Bailey, 2003, tr. Theo quan điểm của ông cho rằng, hành động xã hội là hành động hướng tới sự đáp lại của người khác hay hành động xã hội là hành động mà chủ thể gắn cho đối tượng một ý nghĩa chủ quan nhất định.
Do đó, giải thích xã hội học đối với hành động phải bắt đầu bằng việc quan sát và lý giải trạng thái tinh thần chủ quan. Trong khi nhà thực chứng luận nhấn mạnh đến sự kiện và quan hệ nhân quả, thì nhà hành động luận nhấn mạnh đến sự thấu hiểu. Vì không thể đi vào bên trong đời sống tinh thần của chủ thể nên nhà xã hội học phải phát hiện các ý nghĩa, đạt được sự thấu hiểu bằng phương pháp lý giải, mà không thể bằng đo lường khách quan. Vì các ý nghĩa thường xuyên được dàn xếp trong quá trình tương tác, nên không thể thiết lập được các quan hệ nhân quả đơn giản.
Theo quan niệm của Weber, một hành động xã hội là một hành động của một cá nhân mà có gắn một ý nghĩa vào hành động ấy, và cá nhân đó tính đến hành vi của người khác, bằng cách như vậy mà định hướng vào chuỗi hành động đó. Một hành động mà một cá nhân không nghĩ về nó thì không thể là một hành động xã hội. Mọi hành động không tính đến sự tồn tại và những phản ứng có thể có từ những người khác thì không phải là hành động 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hành động không phải là kết quả của quá trình suy nghĩ có ý thức thì không phải là hành động xã hội.
Do vậy, khi đề cập đến các loại hành động xã hội, ông đã chia hành động xã hội ra 4 loại cơ bản: Thứ nhất là hành động xã hội theo mục đích: người hành động phải chọn mục đích nào và phương tiện nào để đạt được mục đích, kết quả cao nhất. Ông cho rằng chỉ đến xã hội tư bản, hành động hợp mục đích mới phát triển đầy đủ và chiếm ưu thế. Thứ hai là hành động xã hội theo giá trị: đây là loại hành động hợp lý về giá trị-hướng tới những giá trị, nghĩa là khi diễn ra hành động thì chủ thể hành động phải suy nghĩ kiểm tra. Thứ ba là hành động xã hội theo cảm xúc: không tuân theo qui luật, lôgic biện chứng của khoa học mà tuân theo những qui luật tâm lý.
Thứ tư là hành động theo truyền thống: là loại hành động mà chủ thể hành động xuất phát từ cái họ cho là họ đã học hành hay kinh nghiệm từ trước đó. Cấu trúc của hành động xã hội gồm: Nhu cầu và lợi ích cá nhân; chủ thể hành động; hoàn cảnh (môi trường) hành động và phương tiện (công cụ) hành động. Nhu cầu và lợi ích của cá nhân: Đây là yếu tố tạo động cơ thúc đẩy hành động để thỏa mãn. Động cơ này sẽ tạo ra tính tích cực của chủ thể, tham gia định hướng hành động và quy định mục đích của hành động.
Chủ thể hành động: Là cá nhân, nhóm, cộng đồng, xã hội. Hoàn cảnh/môi trường của hành động: Là điều kiện về thời gian, không gian vật chất và tinh thần của hành động. Sự tác động của môi trường, hoàn cảnh tới hành động như thế nào? Tuỳ theo hoàn cảnh hành động mà các chủ thể hành động sẽ lựa chọn phương án tối ưu nhất đối với họ. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phương tiện/ công cụ: Là cách thức mà chủ thể sử dụng để thực hiện hành động và đạt được mục đích của mình. Vận dụng lý thuyết hành động xã hội, tác giả tìm hiểu mục đích và nhu cầu được nâng cao năng lực của đội ngũ trí thức cũng như những lợi ích từ việc tham gia các hoạt động nghiên cứu chuyên môn, hoạt động nâng cao mức sống cho bản thân và gia đình thông qua các hành động cụ thể… của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn. Lý thuyết cấu trúc - chức năng Lý thuyết cấu trúc - chức năng với những đại diện tiêu biểu như: A. Các tác giả này đều nhấn mạnh tới tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thề mà mỗi bộ phận đều có những chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định và bền vững.
Lý thuyết cấu trúc - chức năng cho rằng: một xã hội tồn tại được, phát triển được là do các bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng với nhau để đảm bảo sự cân bằng chung của cả cấu trúc, bất kỳ sự thay đổi nào ở thành phần nào cũng kéo theo sự thay đổi ở các thành phần khác. Sự biến đổi của cấu trúc tuân theo quy luật tiến hoá, thích nghi, khi môi trường có sự thay đổi và sự biến đổi cấu trúc hướng tới sự thiết lập lại trạng thái cân bằng và ổn định. Đối với cấu trúc xã hội, các đại diện của thuyết chức năng vừa nhấn mạnh tính hệ thống của nó vừa đề cao vai trò quan trọng của hệ giá trị - hệ giá trị chuẩn mực xã hội trong việc tạo dựng sự nhất trí, thống nhất, ổn định và trật tự xã hội. Vận dụng lý thuyết này vào vấn đề cụ thể, thuyết chức năng hướng vào giải quyết vấn đề bản chất của cấu trúc xã hội và hệ quả của cấu trúc xã hội đó.
Đặt trong bối cảnh sự kiện, hiện tượng là tìm hiểu năng lực của đội ngũ trí 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức thì vấn đề là hướng vào phân tích thực trạng năng lực của trí thức hiện nay và các thành phần tác động tới khả năng làm việc của đội ngũ trí thức cũng như hệ thống các các cơ chế, chính sách dành cho đội ngũ trí thức nói chung và trí thức khoa học xã hội và nhân văn nói riêng hiện nay như thế nào? 1. Lý thuyết hệ thống Lý thuyết hệ thống được áp dụng trong nghiên cứu xã hội đã coi xã hội là một hệ thống với tập hợp những yếu tố liên hệ với nhau, tạo thành sự thống nhất ổn định và tính chỉnh thể. Hệ thống này có những thuộc tính và những quy luật tích hợp. Nguyên lý tính chỉnh thể là nguyên lý xuất phát đồng thời là nguyên lý trung tâm của lý thuyết hệ thống.
Nó cho thấy đặc trưng cơ bản nhất của hệ thống là tính thống nhất chỉnh thể. Tính thống nhất của hệ thống còn là sự thống nhất trong đa dạng hay gọi đó là nguyên lý tính phức thể. Hệ thống là một thể phức tạp, đa cấu trúc, đa chức năng, phức tạp về các loại quan hệ. Trong cấu trúc có hệ thống đóng khác với hệ thống mở; hệ thống thuần nhất khác với hệ thống không thuần nhất; Hệ thống điều khiển với hệ thống bị điều khiển.
Còn trong chức năng có những phạm trù thể hiện hành vi, hành động, hoạt động nhằm duy trì hệ thống; trong quan hệ có quan hệ vĩ mô khác quan hệ vi mô, quan hệ bên trong (nội tại) khác với quan hệ bên ngoài. Lý thuyết hệ thống trong xã hội học gắn liền với tên tuổi Talcott Parsons - nhà xã hội học người Mỹ. Về mặt lý thuyết, Parsons xem xét hệ thống trong một trục toạ độ 3 chiều: Cấu trúc - Chức năng - Kiểm soát. Tức là hệ thống nào cũng có cấu trúc của nó, hệ thống luôn nằm trong trạng thái động vừa tự biến đổi vừa trao đổi với môi trường xung quanh, hệ thống có khả năng điều khiển và tự điều khiển.
20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Parsons đã đưa ra sơ đồ nổi tiếng về hệ thống chức năng xã hội, viết tắt là AGIL. Trong đó gồm bốn loại yêu cầu chức năng hợp thành: (A)- Thích ứng với môi trường. (G)- Hướng đích - huy động các nguồn lực để đạt mục tiêu. (I) - Liên kết, phối hợp các hoạt động.
(L)- Duy trì khuôn mẫu để tạo ra sự ổn định, trật tự. Tương ứng với sơ đồ AGIL, trong bất kỳ hệ thống xã hội nào, người ta có tiểu hệ thống kinh tế; tiểu hệ thống chính trị; tiểu hệ thống pháp luật và tiểu hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội được quy chuẩn thông qua các thiết chế của gia đình, nhà trường, tổ chức văn hoá, tôn giáo. Sự tương quan và tương tác trong sơ đồ AGIL sẽ đảm bảo trật tự, ổn định của hệ thống xã hội. Với những đặc trưng, tính chất nói trên, chúng ta có thể vận dụng lý thuyết hệ thống vào nghiên cứu năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.
Trước hết coi năng lực của cá nhân như là tổng hợp của nhiều yếu tố thống nhất. Tính chỉnh thể của năng lực thể hiện qua các yếu tố cấu thành như điều kiện môi trường làm việc, điều kiện và sự tác động của gia đình, khả năng của bản thân cá nhân. Trong đó điều kiện môi trường làm việc thể hiện ở cơ sở vật chất, mối quan hệ với đồng nghiệp, năng lực của người quản lý…; về khía cạnh gia đình đó là nhà ở, phương tiện sinh hoạt, sự quan tâm-tạo điều kiện của gia đình…; về khả năng của cá nhân đó là tính tự chủ, tính nhanh nhạy, khả năng làm việc độc lập, sự tham gia các hoạt động chuyên môn… Đến lượt nó, năng lực của cá nhân lại chịu tác động của tổ hợp các yếu tố kinh tế xã hội như nghề nghiệp, gia đình, địa vị xã hội, giới, học vấn và 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com môi trường xã hội. Nghiên cứu năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn cần phải đặt trong tổng thể hệ thống những yếu tố này.
Ngoài ra còn phải xem xét năng lực của cá nhân như một phạm trù có tính hệ thống luôn luôn biến đổi và ngày càng được nâng lên.