Chương 1: Tổng quan nghiên cứu - Chương 2: Cơ sở lý luận về NLCN - Chương 3: NLCN của xí nghiệp Toyota Hoàn Kiếm - Chương 4: Đề xuất phát triển hoạt động kinh doanh và dịch vụ của xí nghiệp Toyota Hoàn Kiếm giai đoạn 2015 – 2020 4 z CHƢƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu về năng lực công nghệ - Nghiên cứu về Năng lực công nghệ, các học giả trên thế giới như Frasman (20), James (22), Bell (17), Ramanathan (25) đã lý giải rằng NLCN là “khả năng lực chọn công nghệ, thực hiện các quy trình, sản xuất các sản phẩm có KNCT quốc tế, và năng lực quản trị sự thay đổi trong sản phẩm, quy trình, tổ chức nhà máy là cần thiết để duy trì KNCT quốc tế của một ngành công nghiệp”. Trong đó, tiêu biểu là Frasman và Ramanathan đã đưa ra các yếu tố cấu thành NLCN như bảng sau: Bảng 1.
Các yếu tố cấu thành năng lực công nghệ theo các tác giả TT Tác giả Frasman Tác giả Ramanathan 1. Năng lực tìm kiếm và lựa chọn Năng lực mua bán công nghệ 2. Năng lực làm chủ công nghệ Năng lực vận hành nhập khẩu 3. Năng lực điều chỉnh công nghệ Năng lực sáng tạo trong một môi trường cụ thể 4.
Năng lực thực hiện các sáng tạo Năng lực hỗ trợ dần dần để phát triển 5. Năng lực triển khai R&D để đột phá và sáng tạo 6. Năng lực thực hiện nghiên cứu cơ bản và nâng cấp công nghệ Nguồn: Ramanathan, K. (1995); Frasman, Martin and Kenneth King (1984) - Nghiên cứu về Năng lực công nghệ, Hoàng Đình Phi (6) đã khẳng định rằng “NLCN là việc sở hữu, phát triển và sử dụng có hiệu quả các loại 5 z công nghệ khác nhau để hình thành một hệ thống công nghệ tích hợp trong DN”.
Và ông cũng khái quát về các nhóm năng lực nội tại của NLCN thông qua việc xây dựng mô hình về mối quan hệ giữa NLCN và KNCT bền vững như sau: - KHẢ NĂNG CẠNH TRANH BỀN VỮNG NĂNG LỰC SÁNG TẠO CÔNG NGHỆ NĂNG LỰC VẬN HÀNH CÔNG NGHỆ NĂNG LỰC MUA BÁN CÔNG NGHỆ NĂNG LỰC HỖ TRỢ CÔNG NGHỆ NĂNG LỰC THIẾT BỊ VÀ HẠ TẦNG CÔNG NGHỆ Hình 1. Mối quan hệ giữa năng lực công nghệ và khả năng cạnh tranh bền vững Nguồn: giáo trình Quản trị triến lược của tác giả Hoàng Đình Phi, 2006. - Nghiên cứu về Đánh giá Năng lực công nghệ, Hoàng Đình Phi (6) dựa trên cách phân loại NLCN thành 05 nhóm yếu tố đã xây dựng được bảng tiêu chí đánh giá NLCN của DN theo thang điểm từ 01 đến 10 như sau: 6 z Bảng 1. Bảng tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ của doanh nghiệp TT Các nhóm năng lực Điểm đánh giá (từ 01 đến 10) 1.
Năng lực thiết bị và hạ tầng công nghệ 1. Nhà máy / cơ sở kinh doanh theo yêu cầu và tiêu chuẩn của ngành nghề 1. Số lượng, chất lượng, công suất của các loại máy móc / thiết bị theo yêu cầu và tiêu chuẩn của ngành nghề 1. Tính đồng bộ của máy móc / thiết bị 1.
Mức độ tự động hóa của công nghệ / hệ thống công nghệ 2. Năng lực hỗ trợ công nghệ 2. Năng lực hoạch định chiến lược kinh doanh dựa vào công nghệ, các chiến lược và kế hoạch công nghệ 2. Năng lực hoạch định và thực thi các dự án R&D 2.
Năng lực thu xếp tài chính và các điều kiện thuận lợi cho đổi mới và sáng tạo công nghệ 2. Năng lực quản trị nhân lực trực tiếp tham gia vận hành, đổi mới và sáng tạo công nghệ 3. Năng lực tìm kiếm và mua bán công nghệ 3. Năng lực đánh giá và xác định công nghệ cần thiết phải mua/bán theo yêu cầu cạnh tranh 3.
Năng lực tìm kiếm người mua/bán các công nghệ cần thiết với chất lượng và giá cả cạnh tranh 3. Năng lực lựa chọn và thực thi các cơ chế phù hợp để tiếp thu công nghệ 3. Năng lực đàm phán các điều khoản có hiệu lực và 7 z TT Các nhóm năng lực Điểm đánh giá (từ 01 đến 10) hiệu quả cho các hợp đồng CGCN 4. Năng lực vận hành công nghệ 4.
Năng lực sử dụng hay vận hành các công nghệ một cách hiệu lực và hiệu quả 4. Năng lực hoạch định và thực thi các kế hoạch kiểm soát công nghệ sản xuất/dịch vụ 4. Năng lực hoạch định và thực thi các kế hoạch bảo trì và sửa chữa các thiết bị công nghệ 4. Năng lực chuyển đổi linh hoạt các công nghệ hiện có để đáp ứng yêu cầu sản xuất/dịch vụ 5.
Năng lực sáng tạo công nghệ 5. Năng lực tìm hiểu để đổi mới và sáng tạo công nghệ nhằm nâng cao chiến lược sản phẩm 5. Năng lực đổi mới và sáng tạo sản phẩm mới dịch vụ mới 5. Năng lực thực hiện đổi mới quy trình sản xuất hoặc quy trình kinh doanh 5.
Năng lực đổi mới và sáng tạo hệ thống công nghệ Nguồn: Hoàng Đình Phi, 2012 Như vậy, các nghiên cứu trước đã chỉ ra được những yếu tố cấu thành nên NLCN của một DN, nó có thể gồm 04 hoặc 05 hoặc 06 năng lực nội tại khác nhau tùy theo từng tác giả. Riêng tác giả Hoàng Đình Phi đã có nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa NLCN và KNCT bền vững, đồng thời đưa ra được bảng đánh giá NLCN của DN. Nghiên cứu về năng lực công nghệ của xí nghiệp Toyota Hoàn Kiếm - Nghiên cứu về vấn đề liên quan tới Năng lực công nghệ của xí nghiệp Toyota Hoàn Kiếm, tác giả Nguyễn Thị Phượng (9) trong đề tài “Tình hình sản xuất kinh doanh của xí nghiệp Toyota Hoàn Kiếm, Hà Nội” đã nghiên cứu được tình hình kinh doanh, cơ sở vật chất, cơ cấu lao động của XN, tình hình hoạt động chung của đơn vị để từ đó đưa ra được những giải pháp về giá cả, dịch vụ nhằm phát triển hoạt động kinh doanh cho XN. - Trong một nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc Khoa Quản trị Kinh doanh, Học viên Công nghệ Bưu chính Viễn thông, dưới sự hướng dẫn của ThS Phan Tú Anh (10) đã nghiên cứu về đề tài “Đánh giá năng lực công ty cổ phần sữa TH”, đã có những đánh giá định lượng về NLCN sản xuất sữa của công ty TH theo mức độ đóng góp và ảnh hưởng của 04 thành phần công nghệ là T - Technology, H - Human, I-Information, O-Organization.
Sử dụng công thức đo Giá trị tạo được do công nghệ để đánh giá NLCN theo Atlas công nghệ để so sánh từng cặp thành phần công nghệ theo thứ tự / hoặc theo tầm quan trọng, đề tài đã có kết luận về NLCN và mức độ phù hợp của công nghệ với yêu cầu hiện tại trong sản xuất của công ty TH. Ở một mức độ báo cáo thực tập, tác giả Nguyễn Thị Phượng đã chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về NLCN, đồng thời cũng chưa có được mô hình và phương pháp nghiên cứu cụ thể về các năng lực nội tại trong công nghệ của XN. Điểm này đã được khắc phục trong nghiên cứu của nhóm tác giả Phan Tú Anh nhưng việc sử dụng phương pháp của tác giả này ứng dụng trong một đơn vị sản xuất như TH là phù hợp, còn với XN Toyota Hoàn Kiếm là 1 đơn vị kinh doanh và dịch vụ thì cần có sự lựa chọn và phối hợp các phương pháp / công cụ khác nhằm đánh giá được chính xác hơn. Một số khái niệm cơ bản 1.
Công nghệ Trong Luật CGCN năm 2006 của Việt Nam có định nghĩa “Công nghệ là các giải pháp, quy trình, bí quyết; có gắn hoặc không gắn với công cụ, phương tiện; dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Định nghĩa này còn chung chung, chưa thể hiện rõ các yếu tố nội hàm của công nghệ quản trị, công nghệ sản xuất, công nghệ dịch vụ và các thành phần cơ bản của một công nghệ. Trên thực tế tồn tại rất ít công nghệ không có yếu tố phần cứng, mà trong đa số các trường hợp công nghệ bao giờ cũng bao gồm cả phần cứng. Ramanathan (25) đã đưa ra một định nghĩa mang tính bao quát về công nghệ với 04 thành phần hay 04 yếu tố: - Kỹ thuật (Technoware): bao gồm các hệ thống phụ trợ chuyển đổi vật liệu, xử lý thông tin.
Các loại máy móc hoạt động với chức năng theo thiết kế, có thể có thêm hệ thống xử lý thông tin đi theo máy. Trong một vài trường hợp có thể không có hệ thống phụ để xử lý thông tin trong thiết bị. - Con người (Humanware): bao hàm lao động của con người với các kỹ năng cần thiết để thực hiện thao tác vận hành phần thiết bị, hay kể cả những con người hỗ trợ sản xuất, bảo trì, sửa chữa máy móc - Tổ chức (Orgaware): hỗ trợ theo hệ thống các nguyên tắc, thao tác, thu xếp… để quản lý hiệu quả việc sử dụng thành phần kỹ thuật bởi con người. Thành phần tổ chức có thể gọi là tổ chức công việc, hạ tầng cơ sở tiến hành công việc, đánh giá và cải tiến công việc.
- Thông tin (Infoware): là tri thức thu được cần thiết để thực hiện hóa tiềm năng của các thành phần khác bao gồm kỹ thuật, con người, tổ chức. Định nghĩa này của Ramanathan tương đối phức tạp và có phạm vi tương đối rộng với nhiều yếu tố nội hàm nhỏ hơn trong từng nhóm. Trên thực 10 z tế, với tư cách là một loại tài sản, cng bao giờ cũng thuộc về sở hữu của một cá nhân, một DN hay một tổ chức nhất định. Vì vậy, không nên đưa yếu tố tổ chức vào trong thành phần công nghệ.
Hơn nữa, việc đưa yếu tố tổ chức vào thành phần của một công nghệ hay một hệ thống công nghệ có thể làm phức tạp thêm cho quá trình đánh giá mức độ hiện đại của một công nghệ hay một hệ thống công nghệ có thể làm phức tạp thêm cho quá trình đánh giá mức độ hiện đại của một công nghệ hay một hệ thống công nghệ, bởi vì một DN hay một tổ chức được hình thành và đầu tư không chỉ vì lý do cần tập trung vào phát triển công nghệ. Trong tình huống một DN hay một tổ chức cùng một lúc phát triển 2-3 hệ thống công nghệ khác nhau, thì việc phân chia để tính toán mức độ đóng góp của yếu tố tổ chức trong mỗi công nghệ là rất khó, hay nói đúng hơn là không thể thực hiện được.