Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã 1. Khái niệm cán bộ cấp xã Trong suốt một thời gian dài, trước khi Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 ra đời, cán bộ xã hay công chức xã đều không có khái niệm rõ ràng. Trong thời gian này, cán bộ xã được điều chỉnh bởi các văn bản như Thông tư 477/TCCP ngày 10/12/1981 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 112/HĐBT ngày 15/10/1981; Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995 quy định về số lượng và chế độ chính sách của cán bộ công tác Đảng, chính quyền, đoàn thể ở cấp xã; Thông tư 97/TTLB/TCCP-BTC ngày 16/8/1995 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995.
Pháp lệnh Cán bộ, Công chức năm 1998 không quy định cụ thể về cán bộ cấp xã mà chỉ quy định chung về cán bộ, công chức. Trong các văn bản trên chỉ rõ những chức danh nào là cán bộ công tác tại xã được hưởng sinh hoạt phí chứ không nêu khái niệm về cán bộ và công chức cấp xã. Trải qua một thời gian tương đối dài như vậy dẫn đến tình trạng không rõ ràng về vị trí của cán bộ và công chức cấp xã, ngay cả ở thời điểm hiện tại khi Luật cán bộ công chức (2008) đã ra đời được hơn 10 năm thì tình trạng dùng sai khái niệm, ngộ nhận vẫn diễn ra trong chính đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, một số phòng ban chuyên môn thuộc huyện và người dân. Căn cứ theo Luật Cán bộ, Công chức, luật số 22/2008/QH ban hành ngày 13 tháng 11 năm 2008 quy định: Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, 8 nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Khái niệm, đặc điểm của chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Khái niệm Chủ tịch UBND cấp xã là cán bộ chuyên trách lãnh đạo Uỷ ban nhân dân cấp xã, chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của Uỷ ban nhân dân và hoạt động quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng đã được phân công trên địa bàn xã, phường, thị trấn. Đặc điểm của chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Hội đồng nhân dân bầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân theo giới thiệu của Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Chủ tịch Ủy ban nhân dân được bầu tại kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân phải là đại biểu Hội đồng nhân dân. Chủ tịch Ủy ban nhân dân được bầu trong nhiệm kỳ không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân.
Về cơ bản, đến thời điểm hiện tại, chủ tịch UBND xã theo luật định do HĐND cũng cấp bầu ra, chủ tịch UBND xã làm việc theo nhiệm kì, nhiệm kì của Chủ tịch UBND xã theo nhiệm kì của HĐND xã là 5 năm, hết nhiệm kì, Chủ tịch UBND xã tiếp tục làm việc đến khi HĐND xã bầu ra Chủ tịch UBND mới, Chủ tịch UBND xã không bắt buộc làm việc đủ nhiệm kì 05 năm, vì lý do sức khỏe, tuổi nghỉ hưu, có thể nghỉ khi chưa kết thúc nhiệm kì, khi ấy, HĐND cùng cấp sẽ họp bãi nhiệm và bầu ra Chủ tịch UBND mới. Chủ tịch UBND xã lãnh đạo UBND xã, chịu trách nhiệm về hoạt động của mình và UBND xã trước HĐND cùng cấp, UBND cấp trên (UBND huyện) và trước người dân. Chủ tịch UBND cấp xã chịu sự quản lý của chủ tich UBND cấp huyện. Chủ tịch UBND xã là nhân sự thuộc “Đảng cử”, nhân sự được giới thiệu để bầu giữ vị trí Chủ tịch UBND bắt buộc phải do cấp Ủy đảng tín nhiệm giới thiệu và có sự đồng ý của cơ quan đảng cấp trên (Huyện ủy).
Nhiệm vụ, quyền hạn của chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Theo luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định đơn vị hành chính cấp xã bao gồm: xã, phường, thị trấn (Khoản 4, Điều 2). Chủ tịch UBND cấp xã thực nhiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định, cụ thể: Đối với chủ tịch UBND xã, Điều 36 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: “Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã là người đứng đầu Ủy ban nhân dân xã và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: 1. Lãnh đạo và điều hành công việc của Ủy ban nhân dân, các thành viên Ủy ban nhân dân xã; 2. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã; thực hiện các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng; tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân; thực hiện các biện pháp quản lý dân cư trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật; 3.
Quản lý và tổ chức sử dụng có hiệu quả công sở, tài sản, phương tiện làm việc và ngân sách nhà nước được giao theo quy định của pháp luật; 4. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật, tiếp công dân theo quy định của pháp luật; 5. Ủy quyền cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong phạm vi thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân; 6. Chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, phòng, chống cháy, nổ; áp dụng các biện pháp để giải quyết các công việc đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật; 7.
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền.” 10 Đối với chủ tịch UBND phường, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ quyền hạn như chủ tịch UBND xã còn có thêm: - Phối hợp với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện quy hoạch phát triển hạ tầng đô thị, xây dựng, giao thông, phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường, không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị trên địa bàn phường. - Quản lý dân cư trên địa bàn phường theo quy định của pháp luật. Đối với chủ tịch UBND thị trấn, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn như chủ tịch UBND xã còn có thêm: - Phối hợp với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện quy hoạch phát triển hạ tầng đô thị, xây dựng, giao thông, phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường, không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị trên địa bàn thị trấn. - Quản lý dân cư trên địa bàn thị trấn theo quy định của pháp luật.
Xuất phát từ đặc điểm nhiệm vụ quyền hạn của mình, chủ tịch UBND xã ngoài những vai trò chung của CBCC còn có những vai trò cụ thể sau: - Một là, chủ tịch UBND xã là người trực tiếp được nhận tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước đến nhân dân; làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu đúng, hiểu đầy đủ các chủ trương, chính sách đó: + Trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang tiến hành xây dựng nhà nước pháp quyền, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; vì vậy, vai trò này càng có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho nhân dân biết và nắm được các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trên cơ sở đó sẽ tham gia, đóng góp vào việc thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách đó. + Thông qua việc tiến hành nhiều hình thức, biện pháp khác nhau như thông qua các buổi tuyên truyền, nói chuyện tại cuộc họp thôn, xóm, khu dân cư, tổ đoàn kết, trung tâm học tập cộng đồng hoặc thông qua các buổi đối thoại trực tiếp với nhân dân để giải quyết các vấn đề mới phát sinh như liên quan đến việc bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng, quy hoạch… Đồng 11 thời, nó còn đòi hỏi phải có những hiểu biết nhất định về lý luận và am hiểu tình hình thực tế của địa phương, cũng như nắm bắt được đặc điểm, tâm lý của từng lớp dân cư thuộc phạm vi quản lý của mình. - Hai là, chủ tịch UBND xã là người có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư: + Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được nhân dân nắm bắt, nhận thức mới chỉ là khởi đầu, điểm xuất phát để kiểm nghiệm được tính đúng đắn của chủ trương, đường lối đó; điều kiện đủ là phải tổ chức thực hiện trong thực tiễn. + Để thực hiện tốt vị trí, vai trò này; đòi hỏi chủ tịch UBND cấp xã phải có khả năng tổ chức, bố trí, sử dụng, tập hợp và lôi cuốn mọi người vào hoạt động; phải có khả năng xử lý các tình huống phát sinh, đó là các tình huống về tài chính, về thiên tai, địch họa, do va chạm xóm giềng, dòng tộc, tình huống nảy sinh khi ra những quyết định sai trái với cấp trên…; phải có khả năng kiểm tra, đánh giá hoạt động của mình và khả năng tổng kết, sơ kết việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách.
+ Chủ tịch UBND cấp xã có vai trò đảm bảo cho các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thực hiện một cách nghiêm túc, thông qua việc xử lý, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật kịp thời, hiệu quả, góp phần ổn định tình hình an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội tại từng địa bàn thôn, xóm, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị đề ra.