CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án Nghiên cứu về CT, NLCT và NLCTXK đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước trong thời gian gần đây.1 Những nghiên cứu về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh Quá trình toàn cầu hoá khiến các quốc gia trở thành một bộ phận phụ thuộc của nền kinh tế thế giới, từ sự phát triển kinh tế theo chiều rộng sang phát triển kinh tế theo chiều sâu. Trong bối cạnh mới hiện nay, mỗi quốc gia không chỉ tăng cường tiềm lực kinh tế của mình, mà còn mở rộng buôn bán với các quốc gia khác theo xu hướng vừa phát triển vừa tăng cường liên kết. Giờ đây, sự CT vượt ra khỏi biên giới của mỗi quốc gia, bên cạnh lợi thế so sánh, các học giả quan tâm nhiều hơn tới lợi thế CT nhằm xác định xem những nhân tố nào dẫn đến thành công cho một quốc gia, cho một ngành, một DN hay một SP.
Nhà kinh tế học Ricardo (1817) là người đặt nền móng sơ khai về lợi thế so sánh trong nghiên cứu chi phí SX trên cơ sở giả định trong một nền kinh tế giản đơn, SX hai loại hàng hóa và công nghệ sản xuất (CNSX) là cố định. Trong đó lao động là YT duy nhất chỉ di chuyển trên phạm vi quốc gia mà không di chuyển trên phạm vi quốc tế, CNSX không đổi, không có chi phí vận tải và hàng rào thuế quan, và TM diễn ra hoàn toàn tự do. Tiếp đến Haberler, G. Đồng thời, lý thuyết về lợi thế so sánh được phát triển thêm một YT nữa là YT đầu vào của quá trình SX (lao động và vốn).
Như vậy, từ mô hình lý thuyết lợi thế so sánh giản đơn có thể phát triển xa hơn từ góc độ sự tương đồng về cầu giữa các quốc gia, thương mại nội bộ ngành, chênh lệch về trình độ CN (công nghệ), lợi thế theo quy mô. Lợi thế so sánh của một nước có thể xác định một cách hiện hữu thông qua các kết quả xuất nhập khẩu (XNK) của quốc gia về một mặt hàng với phần còn lại của thế giới được đo bằng chỉ số về Lợi thế so sánh bộc lộ (Revealed Comparative Advantage, RCA) của Balassa Bela (1965).A (2001) lợi thế so sánh chỉ có thể phát huy tác dụng khi trong điều kiện là thương mại diễn ra tự do (không có các loại rào cản thuế quan và phi thuế quan cũng như các rào cản khác); không có sự di chuyển các YT trên phạm vi quốc tế; hiệu quả SX không thay đổi theo quy mô; trình độ CN là cố định; thị trường CT 7 hoàn hảo; cân bằng cán cân TM; sở thích của các quốc gia là giống nhau. Tuy nhiên, trong thực tiễn thì mọi giả định nêu trên đều diễn ra ở trạng thái động. Vì vậy, lợi thế CT ra đời nhằm lý giải tại sao trong bối cảnh nhiều YT quốc tế, tác động đan xen lẫn nhau.
Trong đó, những quốc gia có những nét tương đồng về quy mô kinh tế, CN, nguồn lực mà hoạt động kinh tế của quốc gia này lại tốt hơn quốc gia kia hay cùng SX một loại hàng hóa như nhau với các điều kiện về môi trường KD tương tự mà DN này lại thành công hơn những DN khác. Đại diện cho trường phái cổ điển, nhà kinh tế chính trị Adam Smith đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của kinh tế học bằng lý thuyết về “bàn tay vô hình”. Tức là để cho cung cầu về hàng hóa tự vận động mà không có sự can thiệp của chính phủ vào thị trường. Tuy nhiên, các học giả của trường phái này chưa đưa ra được khái niệm cụ thể về CT.
Tiếp nối trường phái hiện đại, C.Mác đã nghiên cứu và phát triển lý thuyết về CT một cách rõ nét hơn trong bộ “Tư bản” và phân tích sự cách mạng hoá không ngừng từ bên trong của các DN. Sau đó đã có rất nhiều học giả nghiên cứu về luồng lý thuyết này và nổi bật hơn cả đó là Porter, M. Với tác phẩm này, Porter được coi là người đầu tiên chắp bút và đặt nền móng cho khái niệm về CT. Cách tiếp cận về CT của Porter rất đơn giản và dễ hiểu giải thích cho sự phức tạp trong CT.
Trong đó, ba chiến lược CT phổ quát và mạnh mẽ nhất đó là sự khác biệt hóa, chi phí thấp và trọng tâm, đồng thời nêu ra một góc nhìn mới về cách thức phân chia LN. (1990) với tác phẩm “The competitive Advantage of Nation” (Lợi thế CT của quốc gia) đã nêu các khái niệm về “lợi thế CT” và “lợi thế so sánh” trong bối cảnh tham gia TMQT. Trong đó, nếu một DN chỉ tập trung vào tăng trưởng và đa dạng hoá SP thì không đảm bảo cho sự thành công bền vững. Vì thế, Porter đã xây dựng mô hình 5 áp lực mà trong ngành nghề KD nào cũng bị tác động và là nền tảng kiến thức được áp dụng rộng rãi trong hầu hết các lý thuyết của quản trị chiến lược cũng như marketing hiện đại.
Nghiên cứu của Porter đã chứng minh rằng quan điểm về lợi thế so sánh truyền thống (sức lao động, nguồn tài nguyên của quốc gia) sẽ không được còn được coi là nguồn gốc của sự thịnh vượng mà các YT như: phương thức sử dụng nguồn lực, sự thích ứng, nhạy bén khi môi trường KD thay đổi,… Đối với các DN nhỏ thì nên xây dựng chiến lược hướng vào các phân khúc thị trường ngách vì đó sẽ là cơ hội để DN kiếm LN mà lại tránh được sự CT với các DN lớn. Hơn nữa, khi tập trung vào thị trường cụ thể DN sẽ có khả năng 8 thực hiện mục tiêu của mình tốt hơn trong thị trường lớn. Đối với những ngành công nghiệp hỗ trợ và những ngành có liên quan sẽ có NLCT cao hơn so với ngành khác nếu các DN trong ngành chú trọng đến đổi mới và quốc tế hóa theo chuỗi giá trị. Do đó, để có lợi thế CT bền vững đòi hỏi quốc gia, ngành, DN phải luôn xây dựng các kỹ năng, kiến thức trong việc quản lý chuỗi giá trị, tăng hiệu suất sử dụng, tái tạo nguồn lực khan hiếm một cách có hiệu quả nhất.
Hội nhập KTQT giữa các quốc gia khiến cho phạm vi của thị trường ngày càng mở rộng và CT ngày càng gay gắt mang cấp độ quốc tế thì khái niệm về NLCT được nhắc đến và phổ quát rộng rãi hơn bao giờ hết. Ngoài các tác phẩm phân tích về CT của Porter còn có một số nghiên cứu điển hình về khung lý thuyết về NLCT của các tác giả thuộc trường phái CT hoàn hảo như W.và trường phái CT hiện đại như E. Aglietta, Porter, Micheal Eairbank,. Mỗi tác giả lại có cách tiếp cận riêng về NLCT như: Từ điển bách khoa điện tử Wikipedia, Rainer Feurer và Kazem Chaharbaghi (1994), trong “Defining Competitiveness: A Holistic Approach, Management Decision” (Nâng cao NLCT: Cách tiếp cận toàn diện, quyết định quản lý); Diễn đàn Kinh tế thế giới với báo cáo NLCT toàn cầu “The Global Competitiveness Report 2009 - 2010”.
Tomasz Siudek, Aldona Zawojska (2014), “Competitiveness in the economic conceps, theories and empirical research”, (NLCT trong lý thuyết kinh tế, lý luận và nghiên cứu thực tiễn). Trong nghiên cứu này, tác giả đã phân tích tính CT dưới góc độ khung lý thuyết, hệ thống lại cơ sở lý luận về các YT cấu thành và ảnh hưởng đến NLCT từ cấp độ vĩ mô đến vi mô. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tùy từng góc độ tiếp cận và đối tượng nghiên cứu mà có những quan điểm khác nhau về NLCT, không có một lý thuyết chung nào áp dụng cho tất cả. Do đó, nghiên cứu đã không trả lời câu hỏi về những định nghĩa được đưa ra trong tài liệu để nắm bắt được những khái niệm được sử dụng phổ biến nhất về tính CT, nhưng mối quan tâm của tác giả là về sự mơ hồ của những định nghĩa đó cản trở việc đo lường và so sánh tính CT.
Để phản ánh sự phức tạp của các khía cạnh liên quan đến NLCT, tác giả đề xuất sử dụng các chỉ số hỗn hợp để đánh giá khả năng CT của khách thể nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả đã chỉ ra một số hạn chế quan trọng của nghiên cứu thực nghiệm về NLCT là sự so sánh không hoàn hảo giữa các kết quả trên các nghiên cứu khi sử dụng các biến số khác nhau (tính năng) mô tả tính CT… Như vậy, các nhà nghiên cứu ngoài nước thường không đưa ra khái niệm chung nhất về NLCT mà khái niệm này được đặt trong từng bối cảnh cụ thể mà họ 9 nghiên cứu. Từ những nghiên cứu về CT một cách chuyên sâu hơn, các nhà kinh tế đã đưa ra những quan điểm và xây dựng hệ thống lý luận về NLCT. Ngoài ra, nghiên cứu NLCT trên các cấp độ cũng có nhiều quan điểm khác nhau.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về NLCT điển hình có các tác giả Bạch Thụ Cường (2002) với tác phẩm “Bàn về CT toàn cầu” và Chu Văn Cấp (2003) với nghiên cứu “Nâng cao sức CT của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập KTQT”. Những nghiên cứu này tập trung vào phân tích các lý luận về NLCT, các YT tác động đến NLCT ở cấp độ quốc gia hay của DN. Thêm vào đó, có các ý kiến cho rằng thực tế rất khó có thể đưa ra những tiêu chí đánh giá được chính xác NLCT của DN, đặc biệt là NLCTXK của DN cũng như khó khăn trong việc xác định các số liệu cụ thể liên quan. Đề án “Nâng cao NLCT các mặt hàng XK Việt Nam thời kỳ 2014 - 2020, định hướng đến 2030” của Bộ Công Thương (2014).
Đề án tập trung đã sử dụng phương pháp tiếp cận mới phổ biến trên thế giới hiện nay để kết hợp với cách tiếp cận truyền thống đó là tiếp cận trực tiếp và cụ thể vào các YT vi mô của hàng hóa được tiêu dùng. Nhóm tác giả đánh giá NLCT của các mặt hàng XK của Việt Nam thông 10 tiêu chí cơ bản của NLCT hàng hóa quốc tế hiện nay đó là: Thuộc tính (giá trị sử dụng phù hợp, tính nổi trội); giá CT; chất lượng đảm bảo; dễ sử dụng (chế tác); có uy tín, thương hiệu tốt; an toàn, vệ sinh, môi trường; SX bằng CN tiên tiến; tiếp thị tốt; chăm sóc sau bán hàng và phát triển nhu cầu tiêu thụ, sử dụng tốt; mẫu mã, thiết kế, trình bày, bao gói đẹp; thu hút sự quan tâm.