Tổng quan luận án

Hoạt động xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và gia tăng nguồn thu ngoại tệ đối với các quốc gia đang phát triển. Tại Việt Nam, nông nghiệp giữ vị trí trụ cột đảm bảo an ninh lương thực và tạo nguồn thu xuất khẩu ổn định. Trong nhóm cây công nghiệp dài ngày, cây chè thích hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng vùng trung du, miền núi phía Bắc, tạo sinh kế cho hơn 3 triệu lao động, hỗ trợ bảo vệ môi trường sinh thái và giảm xói mòn đất. Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương năm 2019, cả nước có 130.000 ha diện tích trồng chè trải rộng trên 34 tỉnh, thành phố với năng suất bình quân 9 tấn búp tươi/ha; hệ thống chế biến gồm hơn 500 cơ sở đạt tổng công suất thiết kế trên 500.000 tấn chè khô/năm. Năm 2018, khối lượng xuất khẩu chè của Việt Nam đạt 127,3 nghìn tấn, mang lại kim ngạch 217,8 triệu USD, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 7 về sản xuất và thứ 5 về xuất khẩu chè trên thế giới.

Mặc dù sản phẩm chè Việt Nam đã hiện diện tại hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, cơ cấu thị trường xuất khẩu bộc lộ sự mất cân đối rõ rệt. Năm 2018, thị trường Pakistan chiếm 38.213 tấn chè (tương đương 30% tổng lượng xuất khẩu của cả nước) với trị giá 81,63 triệu USD (chiếm 37,5% tổng kim ngạch). Ngược lại, tại thị trường Liên minh Châu Âu (EU) – một khối kinh tế với gần 500 triệu dân và sức mua cao – kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam chỉ đạt 6,7 triệu USD. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc chè Việt Nam xuất khẩu sang EU chủ yếu ở dạng thô đóng bao lớn dùng làm nguyên liệu đấu trộn, giá bán thấp, thiếu thương hiệu riêng và gặp nhiều trở ngại trong việc đáp ứng các rào cản kỹ thuật nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm.

Khoảng trống nghiên cứu thực tế cho thấy phần lớn các công trình trước đây tập trung đánh giá năng lực cạnh tranh ở cấp độ quốc gia hoặc cấp ngành, trong khi nghiên cứu ở cấp độ doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu còn rất hạn chế. Các đề tài về xuất khẩu chè Việt Nam chủ yếu khảo sát hoạt động thâm nhập vào những thị trường có yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật thấp, chưa có công trình nào giải quyết toàn diện vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến chè vào thị trường đặc thù và khắt khe như EU.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị có cơ sở khoa học, thực tiễn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu vào thị trường các nước EU của các doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm:

  • Một là, hệ thống hóa các vấn đề lý luận chung về năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp; làm rõ quan điểm về năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến chè, thiết lập khung nghiên cứu với bộ tiêu chí đánh giá và xác định các nhân tố ảnh hưởng.
  • Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2018 theo bộ tiêu chí đã xây dựng, đối sánh với đối thủ cạnh tranh trên thị trường EU và làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành.
  • Ba là, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sang thị trường các nước EU của các doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu Việt Nam đến năm 2025.

Bốn câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra bao gồm:

  • Thứ nhất, các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu gồm những yếu tố nào và mối quan hệ giữa các yếu tố đó được xác định ra sao?
  • Thứ hai, khung nghiên cứu với các tiêu chí và chỉ số đánh giá nào được đề xuất để đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu Việt Nam?
  • Thứ ba, thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu Việt Nam biểu hiện như thế nào theo khung nghiên cứu khi đối sánh với một đối thủ cạnh tranh đại diện?
  • Thứ tư, cần có những giải pháp và kiến nghị cụ thể nào để nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu Việt Nam vào thị trường EU trong thời gian tới?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

  • Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến chè Việt Nam có thị phần xuất khẩu sang thị trường EU. Qua khảo sát thực tế của tác giả, trong số các doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu của Việt Nam chỉ có 12 doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và sở hữu thị phần xuất khẩu sang EU.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu các yếu tố cấu thành, nhân tố ảnh hưởng, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu; phân tích thực trạng theo 3 cấp độ (nguồn lực, phối thức thị trường, vị thế) và đối sánh với đối thủ cạnh tranh (Sri Lanka).
  • Phạm vi khách thể: Các doanh nghiệp chế biến chè tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm chè thô đóng bao trên 3 kg và các doanh nghiệp chế biến chè hữu cơ đóng gói nhỏ dưới 3 kg ở dạng thành phẩm, chè hữu cơ đặc sản sang thị trường EU.
  • Phạm vi không gian: Thị trường các nước Liên minh Châu Âu (EU).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2010 – 2018; số liệu điều tra sơ cấp thu thập trong năm 2017 – 2018; các giải pháp và kiến nghị đề xuất định hướng đến năm 2025.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án thực hiện tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 nhóm chủ đề chính:

Nhóm 1: Các nghiên cứu về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. Tác giả điểm lại lý thuyết lợi thế so sánh cổ điển của David Ricardo (1817) dựa trên chi phí sản xuất và yếu tố lao động; sự phát triển của Gottfried Haberler bổ sung yếu tố vốn; chỉ số lợi thế so sánh biểu hiện (RCA) của Bela Balassa (1965). Về lý thuyết cạnh tranh, luận án trích dẫn tư tưởng "bàn tay vô hình" của Adam Smith, các quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận của Karl Marx và Friedrich Engels, lý thuyết cạnh tranh hiện đại của Paul Samuelson và William Nordhaus (1997), Joseph Schumpeter (1942). Nổi bật là các công trình của Michael Porter (1980, 1990) về ba chiến lược cạnh tranh phổ quát (khác biệt hóa, chi phí thấp, tập trung), mô hình 5 áp lực cạnh tranh và mô hình kim cương. Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của Rainer Feurer và Kazem Chaharbaghi (1994), Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF, 2009-2010), Tomasz Siudek và Aldona Zawojska (2014) được phân tích để làm rõ tính đa chiều của khái niệm. Tại Việt Nam, tác giả tổng thuật các nghiên cứu của Bạch Thụ Cường (2002), Chu Văn Cấp (2003) và Đề án của Bộ Công Thương (2014) về nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu theo 10 tiêu chí.

Nhóm 2: Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Luận án phân loại 5 hướng tiếp cận lý thuyết chính:

  • Tiếp cận theo lý thuyết cạnh tranh truyền thống: Edward Chamberlin (1933) với lý thuyết cạnh tranh độc quyền, Buckley và cộng sự (1991).
  • Tiếp cận theo chuỗi giá trị: Michael Porter (1985) chia hoạt động doanh nghiệp thành 5 hoạt động cơ bản và 4 hoạt động bổ trợ.
  • Tiếp cận theo định hướng thị trường: Ajay Kohli và Bernard Jaworski (1990), John Narver và Stanley Slater (1990), George Day (1994), Philip Kotler và Gary Armstrong (2012), Dart Deng (1994), B.J. Gray và cộng sự (1998).
  • Tiếp cận theo lý thuyết nguồn lực: Birger Wernerfelt (1984), Jay Barney (1991) với tiêu chuẩn nguồn lực VRIN (giá trị, hiếm, khó bắt chước, không thể thay thế), Ron Sanchez (2008).
  • Tiếp cận theo lý thuyết năng lực và năng lực động: David Teece, Gary Pisano và Amy Shuen (1997), Véronique Ambrosini và Cliff Bowman (2009). Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm được tổng quan gồm: Dilek Cetindamar và Hakan Kilitcioglu (2013) tại Thổ Nhĩ Kỳ; Nguyễn Bách Khoa (2004) tiếp cận marketing; Phan Minh Hoạt (2007) vận dụng phương pháp ma trận Thompson – Strickland; Nguyễn Đăng Quang và Trần Quang Thái (2008); Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Mai Trang (2009) về năng lực động; Nguyễn Thiên Phú và Nguyễn Vũ Huy (2013); Nguyễn Viết Lâm (2014) về phương pháp xác định trọng số; Tăng Thị Ngân và cộng sự (2016); luận án của Phạm Thu Hương (2017); luận án của Nguyễn Mạnh Tuân (2019).

Nhóm 3: Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh xuất khẩu. Các công trình quốc tế gồm Montague Lord (2002) về liên kết chính sách thương mại và kinh tế vĩ mô của Việt Nam; Kennedy K. Mbekeani (2010) về vai trò của hạ tầng logistics; Massimiliano Mazzanti và Valeria Costantini (2012) về tác động của chính sách môi trường và đổi mới xanh tại EU; các nghiên cứu sử dụng RCA của Imre Fertö và Lionel Hubbard (2003), Sachin Kumar Sharma và Kavita Bugalya (2014), Birol Erkan và Elif Yildirimci (2015). Trong nước, luận án điểm cứu công trình của Nguyễn Hoàng (2009) về xuất khẩu dệt may sang EU dựa trên 12 tiêu chí chuỗi giá trị; Nguyễn Hồng Nhung (2011) về năng lực cạnh tranh xuất khẩu dệt may.

Nhóm 4: Các nghiên cứu về xuất khẩu chè. Luận án phân tích báo cáo của Nguyễn Đình Long (2001) về nông sản xuất khẩu; đề tài cấp Bộ của Nguyễn Hữu Khải (2004) về chè xuất khẩu Việt Nam; nghiên cứu của Gaminda Ganewatta và cộng sự (2005) về gia tăng giá trị chè xuất khẩu của Sri Lanka giai đoạn 1975 – 1998; nghiên cứu sử dụng mô hình thị phần không đổi (CMS) đối với ngành chè Indonesia; đề tài cấp Bộ của Nguyễn Thị Nhiễu (2007) về nghiên cứu thị trường và marketing xuất khẩu chè.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định giải quyết:

  • Đa số công trình tiếp cận năng lực cạnh tranh xuất khẩu ở tầm vĩ mô hoặc ngành hàng nói chung, thiếu vắng mô hình đánh giá chuyên biệt cho cấp độ doanh nghiệp chế biến chè.
  • Chưa có nghiên cứu nào xây dựng khung tiêu chí và chỉ số định lượng đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến chè vào thị trường đặc thù EU.
  • Thiếu các nghiên cứu thực nghiệm đối sánh năng lực cạnh tranh giữa doanh nghiệp chè Việt Nam với các đối thủ cạnh tranh chủ chốt tại EU trên các cấp độ nguồn lực, phối thức thị trường và vị thế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án kế thừa các lý thuyết nền tảng về cạnh tranh, lý thuyết nguồn lực, lý thuyết chuỗi giá trị và lý thuyết định hướng thị trường để xây dựng khung phân tích. Tác giả đưa ra các định nghĩa thao tác hóa:

  • Cạnh tranh: Là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế dùng mọi nguồn lực để đạt mục tiêu về thị phần, lợi nhuận và danh tiếng so với đối thủ cạnh tranh trên cùng một thị trường.
  • Năng lực cạnh tranh của chủ thể kinh tế: Là khả năng sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả nhằm chiếm vị trí cao trên thị trường, được thể hiện thông qua thị phần và danh tiếng so với đối thủ cạnh tranh.
  • Năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu: Là khả năng khai thác, phối hợp các nguồn lực bên trong và bên ngoài nhằm tạo ra sản phẩm chè đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường nhập khẩu, duy trì và gia tăng thị phần, doanh thu và lợi nhuận trên thị trường mục tiêu.

Khung nghiên cứu của luận án được thiết lập dựa trên sự kết hợp giữa mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter (1985), phương pháp đánh giá của Thompson và Strickland (1989), cùng cách tiếp cận marketing của Nguyễn Bách Khoa (2004). Khung phân tích vận hành theo 3 cấp độ tương tác:

  1. Cấp độ nguồn lực: Đánh giá nền tảng nội lực bên trong của doanh nghiệp.
  2. Cấp độ phối thức thị trường: Đánh giá khả năng triển khai các công cụ marketing xuất khẩu (sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến) để thâm nhập thị trường.
  3. Cấp độ vị thế: Thể hiện kết quả đầu ra thông qua thị phần, tốc độ tăng trưởng và hiệu quả kinh doanh.

Bảng tổng hợp dưới đây trình bày 6 yếu tố cấu thành và hệ thống 42 chỉ số đánh giá thuộc 7 tiêu chí được luận án xác lập qua nghiên cứu:

TT Yếu tố cấu thành / Tiêu chí đánh giá Số lượng thang đo (chỉ số) Nội dung đánh giá chính
1 Năng lực nghiên cứu và đổi mới trong doanh nghiệp 07 Đổi mới công nghệ chế biến, quy trình sản xuất, R&D sản phẩm sạch, thích ứng tiêu chuẩn kỹ thuật
2 Nguồn nhân lực và năng lực quản lý, đào tạo, phát triển 07 Trình độ quản lý, kỹ năng công nhân chế biến, đào tạo chuyên môn, quản trị chuỗi cung ứng
3 Năng lực tài chính dành cho hoạt động xuất khẩu 04 Khả năng huy động vốn, tỷ suất sinh lời, vốn lưu động tài trợ xuất khẩu, đầu tư công nghệ
4 Năng lực marketing xuất khẩu 12 Chất lượng sản phẩm, giá xuất khẩu, kênh phân phối EU, xúc tiến thương mại, bao bì nhãn mác
5 Năng lực tạo dựng mối quan hệ trong hoạt động xuất khẩu 04 Mối quan hệ với nhà nhập khẩu EU, quan hệ với nông dân trồng chè, liên kết tổ chức chứng nhận
6 Năng lực tạo dựng thương hiệu 03 Nhận diện thương hiệu tại thị trường EU, đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý, sở hữu trí tuệ
7 Đo lường năng lực cạnh tranh xuất khẩu (Hiệu quả kinh doanh) 05 Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sang EU, thị phần tại EU, lợi nhuận từ xuất khẩu, tỷ trọng chè giá trị cao

Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp phương pháp định tính và phương pháp định lượng:

  1. Phương pháp nghiên cứu định tính: Áp dụng phương pháp tiếp cận quy nạp từ dữ liệu thực tế nhằm khám phá các yếu tố cấu thành và hoàn thiện bảng câu hỏi. Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu trong khoảng thời gian từ tháng 12/2017 đến tháng 2/2018 đối với 15 chuyên gia giàu kinh nghiệm, bao gồm: 7 chuyên gia từ các trường đại học, 2 chuyên gia từ Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công thương, 1 chuyên gia từ Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), 3 chuyên gia từ Bộ Công Thương, 2 chuyên gia từ Cục Xúc tiến Thương mại. Đồng thời, tác giả thực hiện thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu bổ sung 5 chuyên gia thuộc Hiệp hội Chè Việt Nam cùng các nhà quản lý doanh nghiệp. Kết quả ghi nhận sự đồng thuận tuyệt đối (100%) đối với 3 yếu tố: năng lực nghiên cứu đổi mới, nguồn nhân lực - quản lý, năng lực marketing; 93% đồng thuận với yếu tố năng lực tài chính; 87% đồng thuận bổ sung 2 yếu tố: năng lực tạo dựng mối quan hệ và năng lực tạo dựng thương hiệu.

  2. Phương pháp nghiên cứu định lượng: Sử dụng tiếp cận diễn dịch nhằm lượng hóa các thang đo đánh giá. Khảo sát thực tế cho thấy trong toàn ngành chỉ có 12 doanh nghiệp chế biến chè trực tiếp sản xuất và xuất khẩu sang EU. Do tổng thể doanh nghiệp quá nhỏ, việc áp dụng mô hình hồi quy đa biến hay mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính (SEM) – vốn đòi hỏi cỡ mẫu tối thiểu theo công thức Bollen (1998) là n5 = 425 = 210 quan sát (cần phát tối thiểu 310 phiếu) – là không khả thi. Do đó, luận án sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích và kỹ thuật Thống kê mô tả (Descriptive Statistics). Bảng hỏi cấu trúc sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1 = Rất kém/Rất không đồng ý đến 5 = Rất tốt/Rất đồng ý). Quá trình khảo sát diễn ra từ tháng 2/2018 đến tháng 6/2018: phát ra 40 phiếu cho các cán bộ quản lý của 12 doanh nghiệp, thu về 30 phiếu, sau khi làm sạch loại bỏ phiếu không đạt yêu cầu còn lại 28 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 93%). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 để tính toán giá trị trung bình (Mean), tổng cộng (Sum), độ lệch chuẩn (Std. Deviation), giá trị lớn nhất (Maximum), giá trị nhỏ nhất (Minimum) và sai số chuẩn của giá trị trung bình (S.E Mean).

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Bộ Công Thương, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thống kê, Cục Xúc tiến Thương mại, Hiệp hội Chè Việt Nam, cơ sở dữ liệu Trade Map và các báo cáo quốc tế giai đoạn 2010 – 2018.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến 4 cụm vấn đề: cạnh tranh và năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh xuất khẩu, và hoạt động xuất khẩu chè. Tác giả tổng kết 6 nhóm luận điểm then chốt từ các nghiên cứu trước, xác định rõ 7 khoảng trống lý luận và thực tiễn, đồng thời đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu làm kim chỉ nam cho đề tài. Chương này cũng trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu hỗn hợp gồm hai nhánh: định tính (quy trình phỏng vấn chuyên gia, thảo luận nhóm) và định lượng (quy trình thiết kế bảng hỏi Likert 5 mức độ, thu thập 28 phiếu hợp lệ từ 12 doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu sang EU, xử lý thống kê mô tả trên SPSS 20.0).

Chương 2: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu

Chương 2 tập trung xây dựng nền tảng lý luận chuyên sâu. Tác giả phân tích các khái niệm cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và 4 cấp độ cạnh tranh (quốc gia, ngành, doanh nghiệp, sản phẩm). Trên cơ sở rà soát các mô hình phân tích chiến lược như Ma trận SWOT, Mô hình kim cương của Michael Porter, Ma trận hình ảnh cạnh tranh và mô hình của Thompson & Strickland, tác giả lựa chọn và phát triển khung nghiên cứu năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến chè gồm 3 cấp độ tương tác: cấp độ nguồn lực, cấp độ phối thức thị trường và cấp độ vị thế. Chương 2 làm rõ nội hàm của 6 yếu tố cấu thành, thiết lập bộ 7 tiêu chí với 42 chỉ số đánh giá, đồng thời phân tích các nhóm nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến chè.

Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu vào thị trường các nước EU của các doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu Việt Nam

Chương 3 phân tích bức tranh thực tiễn thị trường chè EU và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2010 – 2018:

  • Thị trường chè EU: Là thị trường nhập khẩu khó tính với các quy định khắt khe về mức dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (MRL), các chứng nhận quốc tế bắt buộc hoặc tự nguyện như Good Agricultural Practices (GAP), Hazard Analysis and Critical Control Point System (HACCP), Fair Trade Organisation (FLO), International Federation of Organic Agriculture Movements (IFOAM), Rainforest Alliance (R.A). Xu hướng tiêu dùng tại 27 quốc gia EU chuyển biến mạnh mẽ sang các sản phẩm chè bảo vệ sức khỏe, sản phẩm hữu cơ, thân thiện môi trường, có nguồn gốc rõ ràng và bao bì tiện lợi. Các nước xuất khẩu chè lớn cạnh tranh trực tiếp tại EU gồm Kenya, Ấn Độ, Trung Quốc, Sri Lanka, Indonesia.
  • Chuỗi cung ứng và hiện trạng doanh nghiệp Việt Nam: Chuỗi cung ứng chè xuất khẩu của Việt Nam còn manh mún, thiếu liên kết chặt chẽ giữa nông dân và nhà máy chế biến. Toàn ngành chỉ có 12 doanh nghiệp duy trì được hoạt động xuất khẩu sang EU, chia thành 2 nhóm: nhóm doanh nghiệp xuất khẩu chè thô đóng bao trên 3 kg (mã HS 090240 cho chè đen, mã HS 090220 cho chè xanh) và nhóm doanh nghiệp xuất khẩu chè hữu cơ đóng gói nhỏ dưới 3 kg, chè đặc sản.
  • Đánh giá thực trạng theo 3 cấp độ:
    • Cấp độ nguồn lực: Doanh nghiệp còn hạn chế về công nghệ chế biến sâu, tỷ lệ đầu tư cho R&D thấp; thiếu nhân lực am hiểu thị trường và rào cản kỹ thuật EU; năng lực tài chính dành cho mở rộng vùng nguyên liệu sạch còn eo hẹp.
    • Cấp độ phối thức thị trường: Sản phẩm chủ yếu ở dạng thô, dùng làm nguyên liệu phối trộn cho các thương hiệu quốc tế; giá xuất khẩu bình quân luôn thấp hơn các đối thủ cạnh tranh; kênh phân phối phụ thuộc hoàn toàn vào các nhà trung gian tại EU; hoạt động xúc tiến thương mại và quảng bá thương hiệu còn mờ nhạt.
    • Cấp độ vị thế: Kim ngạch xuất khẩu sang EU rất khiêm tốn (năm 2018 chỉ đạt 6,7 triệu USD, chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch 217,8 triệu USD của cả nước); thị phần chè Việt Nam tại EU chiếm tỷ lệ nhỏ nhoi so với các đối thủ.
  • Đối sánh cạnh tranh: Luận án thực hiện so sánh đối kháng trực tiếp giữa doanh nghiệp Việt Nam và Sri Lanka – quốc gia có nền công nghiệp chè phát triển hàng đầu tại EU. Bảng 3.6 chỉ rõ sự chênh lệch lớn về trị giá xuất khẩu năm 2018 khi Sri Lanka vượt trội hoàn toàn nhờ định vị thương hiệu chè Ceylon, tỷ lệ đóng gói thành phẩm có giá trị gia tăng cao và mạng lưới phân phối chuyên nghiệp.
  • Ma trận SWOT: Bảng 3.7 tổng hợp điểm mạnh (nguồn nguyên liệu dồi dào, chi phí lao động hợp lý), điểm yếu (chất lượng không đồng đều, dư lượng hóa chất, thiếu thương hiệu riêng), cơ hội (các hiệp định thương mại, nhu cầu chè hữu cơ tại EU gia tăng) và thách thức (hàng rào kỹ thuật MRL ngày càng nghiêm ngặt, cạnh tranh gay gắt từ Kenya và Ấn Độ).

Chương 4: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu vào thị trường các nước EU của các doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu Việt Nam

Chương 4 xây dựng định hướng và hệ thống giải pháp thực thi đến năm 2025:

  • Dự báo thị trường: Bảng 4.1 dự báo nhu cầu tiêu thụ chè đen và chè hữu cơ tại EU tiếp tục tăng trưởng ổn định đối với các dòng sản phẩm chất lượng cao, an toàn thực phẩm.
  • Nhóm giải pháp dành cho doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu (gồm 6 giải pháp tương ứng với các yếu tố cấu thành):
    1. Nâng cao năng lực nghiên cứu và đổi mới trong doanh nghiệp: Đổi mới công nghệ chế biến tinh, cải tiến quy trình sao sấy, đầu tư phòng kiểm nghiệm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật đạt chuẩn quốc tế.
    2. Nguồn nhân lực và năng lực quản lý, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Chuẩn hóa đội ngũ kỹ thuật viên nông nghiệp tại vùng nguyên liệu, đào tạo cán bộ xuất nhập khẩu am tường luật pháp và tiêu chuẩn kỹ thuật EU.
    3. Nâng cao năng lực tài chính dành cho hoạt động xuất khẩu: Quản trị dòng tiền hiệu quả, huy động các nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư dây chuyền sản xuất đạt chứng nhận HACCP, ISO, hữu cơ.
    4. Nâng cao năng lực marketing xuất khẩu: Đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm (tăng tỷ trọng chè xanh, chè thảo mộc, chè hữu cơ đóng gói nhỏ dưới 3 kg), xây dựng chính sách giá linh hoạt gắn với chất lượng, chủ động tiếp cận trực tiếp hệ thống phân phối bán lẻ tại EU.
    5. Nâng cao năng lực tạo lập mối quan hệ trong hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp: Xây dựng mối liên kết bền vững theo hợp đồng với các hộ nông dân và hợp tác xã trồng chè; thiết lập quan hệ đối tác tin cậy, dài hạn với các nhà nhập khẩu, nhà rang xay và hệ thống siêu thị tại EU.
    6. Nâng cao năng lực tạo dựng thương hiệu: Xây dựng bộ nhận diện thương hiệu chè Việt Nam xuất khẩu sang EU (theo Sơ đồ 4.1), đẩy mạnh đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể cho các vùng chè đặc sản (như Mộc Châu, Tân Cương, Bảo Lộc) trên thị trường quốc tế.
  • Nhóm kiến nghị đối với các bên liên quan:
    • Kiến nghị đối với Nhà nước (Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn): Rà soát quy hoạch vùng trồng chè an toàn; siết chặt quản lý lưu thông và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; cung cấp thông tin cảnh báo sớm về các rào cản kỹ thuật của EU; hỗ trợ kinh phí xúc tiến thương mại quốc gia tại các hội chợ chuyên ngành thực phẩm tại châu Âu.
    • Kiến nghị đối với Hiệp hội Chè Việt Nam (VITAS): Phát huy vai trò cầu nối liên kết các doanh nghiệp hội viên; tổ chức tập huấn về các quy định của EU; thúc đẩy xây dựng và quảng bá thương hiệu chung cho chè Việt Nam; hỗ trợ giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đạt được những kết quả cụ thể và đóng góp mới trên cả phương diện lý luận và thực tiễn:

  1. Đóng góp mới về mặt lý luận:
  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khái niệm năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu trong bối cảnh thâm nhập thị trường có rào cản kỹ thuật cao.
  • Thông qua tham vấn ý kiến chuyên gia, luận án xác định được 6 yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến chè (bổ sung 2 yếu tố đặc thù là năng lực tạo lập mối quan hệ và năng lực tạo dựng thương hiệu).
  • Thiết lập thành công khung nghiên cứu toàn diện gồm 7 tiêu chí với 42 chỉ số đo lường, phân bổ theo 3 cấp độ phân tích (nguồn lực, phối thức thị trường, vị thế), tạo công cụ đánh giá khoa học cho các doanh nghiệp ngành chè.
  1. Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
  • Phản ánh trung thực bức tranh năng lực cạnh tranh xuất khẩu của 12 doanh nghiệp chế biến chè Việt Nam có thị phần tại EU giai đoạn 2010 – 2018; chỉ rõ những điểm nghẽn về chất lượng thô, giá bán thấp, thiếu thương hiệu và rào cản dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
  • Tiến hành lượng hóa mức độ đánh giá của các nhà quản trị doanh nghiệp thông qua phân tích thống kê mô tả (Mean, Min, Max, S.E Mean) trên phần mềm SPSS 20.0, chỉ ra thứ tự ưu tiên và khoảng cách năng lực của các doanh nghiệp.
  • Thực hiện đối sánh cụ thể, sâu sắc với đối thủ cạnh tranh Sri Lanka tại EU năm 2018, chỉ rõ bài học kinh nghiệm về chế biến sâu và định vị thương hiệu.
  • Đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ gắn liền với các yếu tố cấu thành nội lực doanh nghiệp, cùng các kiến nghị cụ thể đối với Bộ Công Thương, Bộ NN&PTNT và Hiệp hội Chè Việt Nam có giá trị ứng dụng đến năm 2025.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án đã thẳng thắn chỉ rõ một số hạn chế khách quan trong quá trình thực hiện:

  • Hạn chế về đối tượng và quy mô khảo sát: Do số lượng doanh nghiệp chế biến chè của Việt Nam có thị phần xuất khẩu sang EU quá ít (chỉ có 12 doanh nghiệp), tổng thể mẫu khảo sát nhỏ (thu về 28 phiếu hợp lệ từ các cán bộ quản lý), không đủ điều kiện về số lượng quan sát để triển khai các mô hình phân tích định lượng phức tạp như hồi quy đa biến hay mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính (SEM).
  • Hạn chế về phạm vi tiếp cận chủ thể: Do giới hạn về không gian địa lý và kinh phí nghiên cứu, luận án chưa thể tiến hành điều tra, khảo sát trực tiếp đối với người tiêu dùng và các nhà nhập khẩu tại các nước EU, cũng như chưa khảo sát trực tiếp các đối thủ cạnh tranh quốc tế, mà chủ yếu dựa trên đánh giá của các nhà quản lý doanh nghiệp trong nước và dữ liệu thứ cấp.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Khi ngành chè Việt Nam phát triển và có thêm nhiều doanh nghiệp tham gia xuất khẩu sang EU, các nghiên cứu tương lai cần mở rộng quy mô mẫu khảo sát để áp dụng mô hình hồi quy hoặc SEM nhằm kiểm định chính xác mức độ tác động của từng yếu tố cấu thành đến kết quả xuất khẩu.
  • Thực hiện các cuộc điều tra thực địa tại thị trường EU đối với các nhà nhập khẩu, chuỗi siêu thị và người tiêu dùng bản địa để có góc nhìn đa chiều, khách quan hơn về mức độ nhận diện và sự hài lòng đối với thương hiệu chè Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản trị kinh doanh, Thương mại và Marketing: Luận án cung cấp khung lý thuyết có hệ thống về năng lực cạnh tranh xuất khẩu cấp độ doanh nghiệp, quy trình kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, cùng bảng hỏi 42 chỉ số đo lường chi tiết.
  • Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu: Bộ tiêu chí đánh giá trong luận án là công cụ thực tế giúp các doanh nghiệp tự rà soát, định vị điểm mạnh, điểm yếu ở cấp độ nguồn lực, phối thức marketing và vị thế thị trường, từ đó xây dựng lộ trình nâng cấp công nghệ và chuyển đổi sang sản xuất chè sạch, chè hữu cơ đáp ứng tiêu chuẩn EU.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương, Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ NN&PTNT) và Hiệp hội Chè Việt Nam: Luận án cung cấp các luận cứ khoa học và số liệu thực tiễn để hoạch định chính sách quy hoạch vùng trồng chè, xây dựng hàng rào kiểm soát chất lượng thuốc bảo vệ thực vật, và thiết kế các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia hướng vào thị trường châu Âu.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao luận án không sử dụng mô hình hồi quy đa biến hoặc mô hình SEM để xử lý dữ liệu định lượng? Luận án chỉ rõ, theo tiêu chuẩn phương pháp luận (như Bollen, 1998), với 42 chỉ số quan sát thì mô hình hồi quy hoặc SEM đòi hỏi cỡ mẫu tối thiểu là n*5 = 210 quan sát (cần phát tối thiểu 310 phiếu). Tuy nhiên, trên thực tế toàn ngành chè Việt Nam chỉ có duy nhất 12 doanh nghiệp có thị phần xuất khẩu sang EU. Do tổng thể quá nhỏ, việc áp dụng hồi quy đa biến hay SEM là không khả thi về mặt phương pháp luận, nên tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả trên SPSS 20.0 để phân tích 28 phiếu hợp lệ từ 12 doanh nghiệp này.

  2. Luận án xác định có bao nhiêu yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến chè? Dựa trên tổng quan tài liệu và kết quả phỏng vấn sâu 15 chuyên gia, luận án xác định 6 yếu tố cấu thành gồm: (1) Năng lực nghiên cứu và đổi mới trong doanh nghiệp; (2) Nguồn nhân lực và năng lực quản lý, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; (3) Năng lực tài chính dành cho hoạt động xuất khẩu; (4) Năng lực marketing xuất khẩu; (5) Năng lực tạo dựng mối quan hệ trong hoạt động xuất khẩu; (6) Năng lực tạo dựng thương hiệu.

  3. Đối thủ cạnh tranh trực tiếp được luận án lựa chọn để đối sánh với doanh nghiệp chè Việt Nam tại thị trường EU là quốc gia nào? Luận án lựa chọn Sri Lanka làm đối thủ cạnh tranh đại diện trực tiếp để đối sánh tại thị trường EU (thể hiện rõ qua Bảng 3.6 so sánh trị giá xuất khẩu năm 2018). Sri Lanka là quốc gia điển hình về việc xây dựng thành công thương hiệu quốc gia (chè Ceylon) và xuất khẩu các dòng sản phẩm chè chế biến sâu, đóng gói giá trị cao vào thị trường châu Âu.

  4. Sự chênh lệch về kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam giữa thị trường Pakistan và thị trường EU năm 2018 được thể hiện qua con số nào? Văn bản nêu rõ số liệu năm 2018: Xuất khẩu chè sang Pakistan (thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam) đạt 38.213 tấn với kim ngạch 81,63 triệu USD (chiếm 30% tổng lượng và 37,5% tổng kim ngạch xuất khẩu chè cả nước). Trong khi đó, xuất khẩu sang toàn bộ khối thị trường EU chỉ đạt kim ngạch 6,7 triệu USD, phản ánh sự mất cân đối lớn về thị trường mục tiêu.

  5. Luận án phân loại các doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu sang EU thành những nhóm khách thể nào? Khách thể nghiên cứu của luận án được phân định thành 2 nhóm doanh nghiệp cụ thể: nhóm các doanh nghiệp chế biến chè tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm chè ở dạng thô đóng gói trên 3 kg (mã HS 090240 và 090220), và nhóm các doanh nghiệp chế biến chè hữu cơ đóng gói nhỏ dưới 3 kg ở dạng thành phẩm, chè hữu cơ đặc sản.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Quỳnh đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu về việc nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến chè Việt Nam vào thị trường các nước EU. Tác giả đã thiết lập thành công khung phân tích 3 cấp độ (nguồn lực, phối thức thị trường, vị thế) với 6 yếu tố cấu thành và 42 chỉ số đo lường, làm rõ thực trạng xuất khẩu chè chủ yếu ở dạng thô với kim ngạch khiêm tốn của 12 doanh nghiệp trong ngành giai đoạn 2010 – 2018. Trên cơ sở đối sánh sâu sắc với đối thủ cạnh tranh Sri Lanka và phân tích ma trận SWOT, công trình đã đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp thực tiễn cho doanh nghiệp cùng các kiến nghị chính sách cụ thể đối với Nhà nước và Hiệp hội Chè Việt Nam định hướng đến năm 2025. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng cao cho công tác nghiên cứu, quản trị doanh nghiệp và hoạch định chính sách xuất khẩu nông sản của Việt Nam.