phần mở đầu, tài liệu tham khảo, kết luận, luận văn đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1 – Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2 – Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3 − Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Sài Gòn Thƣơng Tín (Sacombank) trong bối cảnh hội nhập 4 Chƣơng 4 – Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Sài Gòn Thƣơng Tín trong bối cảnh hội nhập 5 CHƢƠNG 1 – TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đƣợc đánh dấu bởi sự kiện quan trọng năm 2007, khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thƣơng mại thế giới WTO. Kể từ sau sự kiện này, không ít các đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà kinh tế học và đề tài luận văn cao học đề cập đến vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, và vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại Việt Nam nói riêng trong thời kì hội nhập. Đề tài Luận văn thạc sĩ kinh tế “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong xu thế hội nhập” của tác giả Phạm Tấn Mến (2008) nêu khái quát lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Thông qua việc phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, cùng với những bài học kinh nghiệm rút ra từ trƣờng hợp của Trung Quốc sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, luận văn đã đƣa ra nhóm 9 giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong xu thế hội nhập. Có thể thấy rằng luận văn đã phân tích trên nhiều mặt về vấn đề năng lực cạnh tranh của một ngân hàng và nêu ra khá nhiều giải pháp để giải quyết vấn đề nghiên cứu. Tác giả Nguyễn Thị Phƣơng Thảo trong Luận văn thạc sĩ kinh tế mang tên “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam thời kỳ hậu WTO” (2008) cũng đã đề cập khái quát đến vấn đề cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại, cùng với bài học kinh nghiệm rút ra từ trƣờng hợp của ngành ngân hàng ở Trung Quốc. Luận văn đã đƣa ra những đánh giá về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Ngoại thƣơng 6 Việt Nam sau khi phân tích thực trạng của đơn vị này và cũng đã đề xuất các nhóm giải pháp giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của đơn vị.
Những lý luận trong luận văn đƣợc đƣa ra một cách có hệ thống và khoa học, giúp những ngƣời tiếp cận luận văn có thể có đƣợc cái nhìn tổng quát và toàn diện về vấn đề nghiên cứu. Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Trƣơng Hoàng Phƣơng (2008) với đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long TP. Cần Thơ trong thời kỳ hội nhập và phát triển” đã nêu lên những lý thuyết cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại. Những phân tích về thực trạng của đơn vị đƣợc nghiên cứu là Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long TP.
Cần Thơ cũng đã giúp tác giả đƣa ra những giải pháp cho đơn vị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Luận văn đã thể hiện khả năng áp dụng vào thực tế khá cao do đã lựa chọn phạm vi nghiên cứu rất cụ thể, tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long đã đƣợc Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Công thƣơng Việt Nam mua lại nên những nhận định hay những giải pháp đã đƣợc nêu trong luận văn không có nhiều giá trị thực tiễn. Luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn – Hà Nội sau khi chuyển đổi từ ngân hàng nông thôn lên đô thị” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Ngọc (2008) lại đề cập đến vấn đề năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại trên một phƣơng diện khác, đó là khi đơn vị chuyển đổi hình thức và đặc điểm kinh doanh. Luận văn cũng đã dựa trên cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại; những bài học kinh nghiệm của các ngân hàng trong nƣớc và trên thế giới; đặc biệt dựa trên những phân tích về thực trạng của đơn vị nghiên cứu để đƣa ra nhóm các giải pháp giúp đơn vị nâng cao hiệu quả cạnh tranh sau khi chuyển đổi.
Đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thành Long (2012) “Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Liên doanh Việt Nga (VRB) sau khi Việt Nam gia nhập WTO” lại tiếp cận vấn đề năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong bối cảnh hội nhập theo hƣớng khác biệt, đó là xác định phạm vi nghiên cứu tại một ngân 7 hàng liên doanh nƣớc ngoài. Tuy cũng dựa trên cơ sở lý luận chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại nhƣng đề tài đã đƣa ra giải pháp chi tiết căn cứ vào tình huống cụ thể của đơn vị tiến hành nghiên cứu. Song, luận văn đƣợc thực hiện vào năm 2012, thời gian này Việt Nam đã gia nhập WTO đƣợc 5 năm và cũng là thời gian Ngân hàng Liên doanh Việt Nga tồn tại ở thị trƣờng Việt Nam, luận văn chỉ đánh giá dựa vào số liệu của đơn vị từ 2007 – 2010, do vậy sẽ làm giảm bớt tính thuyết phục cho việc giải quyết vấn đề nghiên cứu. Bài viết của NCS.
Lê Thị Kim Nhạn đăng trên Tạp chí Phát triển và Hội nhập số 22(32) phát hành tháng 05−06/2015 với tựa đề “Đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)” đã sử dụng mô hình CALMS để đánh giá với các yếu tố: hệ thống kinh doanh lõi và công nghệ; quy mô và mô hình tổ chức kinh doanh; tiềm lực tài chính, khả năng sinh lời; chất lƣợng nguồn nhân lực; thƣơng hiệu, thị phần; dịch vụ ngân hàng. Tuy nhiên, bài viết chỉ dừng lại ở việc phân tích các điểm mạnh, điểm yếu của đơn vị dựa trên những yếu tố nêu trên, mà chƣa đặt đơn vị trong mối liên hệ với các ngân hàng khác và trong một bối cảnh cụ thể. Tất cả các nghiên cứu nêu trên đều đề cập đến vấn đề năng lực cạnh tranh của ngân hàng và có những đặc điểm nổi trội nhƣ sau: Thứ nhất, sau khi nêu những lý thuyết liên quan đến cạnh tranh và năng lực cạnh tranh, các nghiên cứu này lần lƣợt đánh giá năng lực cạnh tranh của đơn vị thông qua nhiều tiêu chí, có thể tổng hợp lại một cách hệ thống những tiêu chí này nhƣ sau: Tiêu chí về năng lực tài chính: khả năng sinh lời; khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu; khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro. Tiêu chí về năng lực hoạt động: khả năng huy động vốn; khả năng cho vay và đầu tƣ; khả năng phát triển sản phẩm, dịch vụ; chất lƣợng tín dụng.
Tiêu chí về năng lực quản trị, điều hành: cơ cấu, cơ chế, mô hình hoạt động; khả năng ứng phó của cơ chế điều hành trƣớc diễn biến của thị trƣờng; khả năng quản trị rủi ro; khả năng quản trị nguồn nhân lực. 8 Tiêu chí về năng lực công nghệ thông tin: mức độ áp dụng công nghệ mới vào hoạt động. Các tiêu chí khác: mạng lƣới chi nhánh; thị phần; danh tiếng; uy tín và khả năng hợp tác. Thứ hai, các nghiên cứu đã chỉ ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại đơn vị thông qua việc phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh.
Các nhân tố đƣợc nêu ra bao gồm: Môi trƣờng kinh doanh; Sự gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế; Sự phát triển của thị trƣờng tài chính và các ngành phụ trợ liên quan đến ngành ngân hàng. Quá trình hội nhập; Quá trình tiến bộ khoa học công nghệ; Nhu cầu đòi hỏi từ phía khách hàng; Nhu cầu tăng trƣởng của nền kinh tế. [“Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long TP. Cần Thơ trong thời kỳ hội nhập và phát triển” Trƣơng Hoàng Phƣơng (2008)].
Các nhân tố khách quan (NHTM mới tham gia thị trƣờng; NHTM hiện tại; sức ép từ phía khách hàng; sự xuất hiện các dịch vụ mới); Các nhân tố chủ quan (năng lực điều hành của ban lãnh đạo ngân hàng; quy mô vốn và tình hình tài chính của NHTM; công nghệ cung ứng dịch vụ ngân hàng; chất lƣợng nhân viên; cấu trúc tổ chức; danh tiếng và uy tín của NHTM; đặc điểm sản phẩm; đặc điểm khách hàng) [“Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam thời kỳ hậu WTO” Nguyễn Thị Phƣơng Thảo (2008)]. Yếu tố môi trƣờng quốc tế; Nhân tố môi trƣờng vĩ mô trong nƣớc (môi trƣờng kinh doanh, hệ thống pháp luật, môi trƣờng văn hóa, xã hội, chính trị); Yếu tố bên trong ngành Ngân hàng (nguy cơ từ các ngân hàng mới, nguy cơ từ sản phẩm thay thế, quyền lực của khách hàng, quyền lực của các nhà cung cấp, mức độ cạnh tranh trong ngành); Yếu tố bên trong của NHTM (năng lực điều 9 hành của ban lãnh đạo ngân hàng, quy mô vốn và tình hình tài chính của NHTM, công nghệ cung ứng dịch vụ ngân hàng, chất lƣợng đội ngũ cán bộ, cấu trúc tổ chức, danh tiếng và uy tín của NHTM, tác nhân về đặc điểm sản phẩm, tác nhân về đặc điểm khách hàng) [“Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Liên doanh Việt Nga (VRB) sau khi Việt Nam gia nhập WTO” Nguyễn Thành Long (2012)].