phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia thành ba chương như sau: Ch-¬ng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh. Ch-¬ng 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh hàng TCMN xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010. Ch-¬ng 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành TCMN Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thời gian tới. 6 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.
Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là một thuật ngữ với nghĩa chủ yếu là phản ánh sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng loại, đồng giá trị nhằm đạt được những ưu thế, những lợi ích theo mục tiêu xác định. Trong kinh tế, khái niệm cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các nhà doanh nghiệp trong việc giành một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường. Cạnh tranh sẽ đem lại lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác, song xét dưới góc độ lợi ích toàn xã hội, cạnh tranh hợp pháp (hay lành mạnh) luôn có tác động tích cực (chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn…) Trong quan hệ kinh tế, cạnh tranh là sự đấu tranh giữa các chủ thể trong việc thực hiện sản phẩm, dịch vụ nhằm chiếm lĩnh thị trường ở mức cao nhất, giành điều kiện tiêu thụ ở mức có lợi nhất để tối đa hóa lợi nhuận.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, khái niệm cạnh tranh được hiểu như một cuộc ganh đua giữa hai hay nhiều cá nhân hoặc tổ chức để giành thị phần trên thị trường (kể cả thị trường bán lẫn thị trường mua). Cạnh tranh là một xu hướng tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Hiện tượng cạnh tranh xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển.
Trong nền kinh tế hàng hóa, quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản và cạnh tranh lấy quy luật giá trị làm tiền đề. Tác động của quy luật giá trị trong việc kích thích sự phát triển của lực lượng sản xuất, đào thải cái lạc hậu dựa trên cơ sở công bằng – đó là sự trao đổi ngang giá. Trong điều kiện đó, muốn có nhiều lợi nhuận các chủ thể kinh tế phải đua nhau đổi mới khâu tổ chức quản lý (sản xuất, lưu 7 z thông phân phối), đua nhau cải tiến kỹ thuật, áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí lao động cá biệt nhằm thu lợi nhuận cao hơn các chủ thể kinh tế khác. Có thể nói, để thắng được trong cạnh tranh, chiếm lĩnh được thị phần buộc các quốc gia, các doanh nghiệp, các ngành sản xuất sản phẩm phải nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh, các cấp độ cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được phân biệt ở ba cấp độ, bao gồm năng lực cạnh tranh quốc gia; năng lực cạnh tranh doanh nghiệp; năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ. - Năng lực cạnh tranh quốc gia là một khái niệm phức hợp, được định nghĩa là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân, chủ yếu nhờ khả năng nâng cấp công nghệ hoặc bằng cách tự sáng tạo hoặc tiếp thu nhanh chóng và tích cực công nghệ từ nước khác. Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) cho rằng, tính cạnh tranh của một quốc gia là “năng lực của nền kinh tế nhằm đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao” trên cơ sở các chính sách, thể chế vững bền tương đối và các đặc trưng kinh tế khác. Theo WEF, khuôn khổ nội dung xác định tính cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế bao gồm tám nhóm nhân tố: độ mở cửa, chính phủ, tài chính, kết cấu hạ tầng, công nghệ, quản trị, lao động và thể chế.
Chỉ số chung đánh giá thứ hạng cạnh tranh của các quốc gia được tính theo tỷ trọng của tám nhóm nhân tố trên. Mỗi nhóm nhân tố lại được xem xét dựa trên các tiểu nhóm nhân tố. Tất cả có khoảng 250 chỉ số định tính và định lượng được sử dụng để đánh giá tính cạnh tranh của quốc gia. Tuy không được nhìn nhận riêng và thật đầy đủ trong quan niệm của WEF, song sự ổn định kinh tế vĩ mô cũng là một nhóm quan trọng đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế bền vững.
Các chỉ số quan trọng nhất được dùng để đánh giá sự ổn định kinh tế vĩ mô là lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, thâm hụt tài chính và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế. 8 z Kể từ giữa những năm 1980, cuộc cách mạng về công nghệ thông tin (IT) và những bước đột phá trong một loạt lĩnh vực như công nghệ gen, y học, năng lượng, vật liệu mới, đang đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên của kinh tế tri thức. Ngày nay, lợi thế cạnh tranh truyền thống dựa trên tài nguyên thiên nhiên và chi phí lao động thấp, tuy còn có giá trị, song mới chỉ là điểm khởi đầu; còn tri thức và kỹ năng mới là nhân tố then chốt đảm bảo tính cạnh tranh cao. - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng vượt qua các đối thủ cạnh tranh để duy trì và phát triển bản thân doanh nghiệp.
Thông thường, người ta đánh giá khả năng này thông qua các yếu tố nội tại của doanh nghiệp như: quy mô, khả năng tham gia cạnh tranh và rút khỏi thị trường, sản phẩm, năng lực quản lý, năng suất lao động, trình độ công nghệ và lao động. Tuy nhiên, những khả năng này lại bị tác động bởi nhiều yếu tố bên ngoài như Nhà nước và các thể chế trung gian. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước. Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ, vì vậy người ta còn phân biệt năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ.
- Năng lực cạnh tranh sản phẩm là sự vượt trội của nó về các tiêu chí so với sản phẩm cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường. Điều đó cho thấy, việc xác định sản phẩm có năng lực cạnh tranh hay không trên thị trường là xác định mức độ tin cậy của người tiêu dùng đối với sản phẩm về số lượng, chất lượng, bao bì, mẫu mã, về giá cả, đổi mới công nghệ, dịch vụ sau bán hàng so với sản phẩm cùng loại mà các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường. Năng lực cạnh tranh ở ba cấp độ đó có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định và phụ thuộc lẫn nhau. Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao, ngược lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, các điều kiện, tiền đề kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi để các doanh nghiệp 9 z kinh doanh có hiệu quả.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời thể hiện thông qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh. Ngược lại, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực tổ chức quản lý của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Trong môi trường cạnh tranh, từng chủ thể kinh tế thể hiện vị thế của mình so với các chủ thể khác. Vị thế đó dựa trên những ưu thế nhất định về các điều kiện sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.
Năng lực cạnh tranh (hay sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh) đều phản ánh vị thế cạnh tranh của các chủ thể kinh tế. Vị thế đó là những điều kiện để các chủ thể kinh tế tham gia vào hoạt động cạnh tranh. Một chủ thể có sức cạnh tranh cao là chủ thể có lợi thế, biết tạo ra những lợi thế để thu được lợi nhuận cao hơn so với các chủ thể khác. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ được đo bằng thị phần của sản phẩm hay dịch vụ đó trên thị trường.
Một sản phẩm, dịch vụ được coi là có năng lực cạnh tranh cao khi giá thành sản xuất thấp, quy mô cung ứng, tính độc đáo của sản phẩm và dịch vụ được người tiêu dùng chấp nhận thể hiện ở thị phần của sản phẩm đó trên thị trường vượt trội so với các sản phẩm tương ứng của các đối thủ cạnh tranh. Cùng với quá trình phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế thì các quan hệ thương mại cũng phát triển, theo đó diễn ra sự mở rộng thị trường trao đổi hàng hóa. Sự mở rộng trao đổi thương mại tác động ngược trở lại sản xuất của mỗi nước theo cả hai chiều: Kích thích gia tăng khối lượng sản phẩm một số hàng hóa được thị trường chấp nhận (được người mua trả giá) và hạn chế sản xuất những mặt hàng mà thị trường không chấp nhận (người mua không trả giá). Như vậy, mỗi sản phẩm do từng nhà sản xuất đưa ra thị trường sẽ được người tiêu dùng phản ứng với mức độ cao thấp khác nhau.
Sự phản ứng của người tiêu dùng thể hiện ở việc mua hay không mua sản phẩm đó. Đây là biểu hiện tổng quát cuối cùng về sức cạnh tranh 10 z của sản phẩm đó. Nói cách khác, cạnh tranh giữa các sản phẩm trên cùng một thị trường là quá trình thể hiện khả năng hấp dẫn người tiêu dùng của các sản phẩm đối với khách hàng trên cùng một thị trường cụ thể và trong một thời gian nhất định. Năng lực cạnh tranh của một sản phẩm có thể gắn với một doanh nghiệp, một quốc gia cụ thể hoặc xét chung cho tất cả các quốc gia, các doanh nghiệp.
Đối với một doanh nghiệp hoặc một ngành, một sản phẩm, năng lực cạnh tranh gắn với mục tiêu duy trì sự tồn tại và thu được lợi nhuận trên thị trường và nó được thể hiện bằng lợi thế cạnh tranh của sản phẩm.