Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ DOANH NGHIỆP MAY NLCT là phạm trù đạt được sự thống nhất cao độ giữa các học giả trên thế giới. Hầu hết các học thuyết, nghiên cứu về NLCT đều chia khái niệm này trên 3 mức cấp độ đó là quốc gia, ngành và sản phẩm/DN. Trong phạm vi luận án này, tác giả tập trung xem xét ở cấp độ thứ 3 là cạnh tranh ở cấp độ sản phẩm/DN trong đó theo nghĩa rộng là bất cứ khả năng nào giúp cho DN tăng trưởng và phát triển hay ít nhất là giữ nguyên được vị trí của mình trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường; còn xét theo nghĩa hẹp đó là khả năng giúp DN có thể tồn tại, duy trì hay tăng thị phần, lôi kéo khách hàng trên thị trường dùng sản phẩm dịch vụ để gia tăng giá trị tài sản, thị phần, doanh số và lợi nhuận cho DN. Với cấp độ nghiên cứu nêu trên, có nhiều nghiên cứu về NLCT của DN ở các lĩnh vực khác nhau.
Trong nghiên cứu này, tác giả đề cập đến NLCT của DN may trong đó tập trung vào đánh giá NLCT của DN may và có xem xét đến sự tác động của các yếu tố đến NLCT của DN may. Tác giả tổng hợp các tài liệu liên quan theo vấn đề nghiên cứu dưới đây. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Theo Từ điển Tiếng Việt, “năng lực” được hiểu là điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó [17]. Từ điển Tiếng Việt cũng nêu: “cạnh tranh” là sự tranh đua nhau để giành lấy lợi ích về phía mình giữa những người, những tổ chức có cùng lĩnh vực hoạt động như nhau [17].
“NLCT” là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, một ngành hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ (Trích Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam). Với quan điểm NLCT là năng lực nội sinh của DN. Theo Aldington Report (1985) [66], DN có NLCT tốt khi nó có thể sản xuất sản phẩm, dịch vụ có chất lượng với giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh. Hamel và Prahalad (1990) [47] khi nghiên cứu về NLCT của DN đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố thuộc về năng lực nội sinh.
Đó là: (1) Chiến lược kinh doanh; (2) Các cấu trúc, năng lực, khả năng sáng tạo; (3) Các nguồn lực vô hình và hữu hình. Các tác giả đã chỉ ra rằng NLCT của DN chính là khả năng phát triển và tận dụng tốt các nguồn lực của mình hơn đối thủ cạnh tranh. Từ đó có thể cung cấp cho khách hàng nhiều giá trị hơn, làm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của họ so với đối thủ của DN. Để làm được điều đó, DN phải hoạt động hiệu 5 quả, thể hiện ở chi phí thấp, giá thành sản phẩm thấp, chất lượng sản phẩm cao và mẫu mã sản phẩm đa dạng.
Cũng theo quan điểm này, Markusen (1992) [37] đã khẳng định: “một nhà sản xuất có tính cạnh tranh nếu như nó có một mức chi phí đơn vị trung bình bằng hoặc thấp hơn chi phí đơn vị của các nhà cạnh tranh quốc tế”. Còn D’Cruz và Rugman (1992) [67] thì cho rằng: NLCT của một DN là khả năng thiết kế, sản xuất cung cấp sản phẩm ra thị trường với giá cả và chất lượng vượt trội.A, Competitiveness: Self Assessment Approach [40]. Nghiên cứu này là đã chỉ ra những góc độ để phân tích NLCT của một DN. Trên cơ sở từng góc độ, tác giả đã đưa ra và phân tích từng tiêu chí cụ thể.
Có thể đánh giá đây là một nghiên cứu có giá trị để đánh giá NLCT của DN. Trong nghiên cứu này, tác giả đã khẳng định: NLCT là khả năng để tăng thị phần, lợi nhuận, tăng trưởng giá trị gia tăng và để duy trì sự cạnh tranh trong một khoảng thời gian dài. Trong đó các tiêu chí đo lường NLCT DN được tác giả gọi tên là Tài sản cạnh tranh bao gồm: cơ sở hạ tầng, tài chính, công nghệ và con người. Tiến trình cạnh tranh của DN được kiểm chứng thông qua: chất lượng, tốc độ, khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng và dịch vụ.
Tuy nhiên, nghiên cứu trên chưa đề cập đến một số vấn đề sau: Thứ nhất: 1 trong 4 yếu tố thể hiện NLCT của DN được tác giả đề cập trong nghiên cứu đó là “thời gian phản ứng”. Đây là yếu tố rất khó đo đếm và lượng hóa đối với các DN ở Việt Nam, đặc biệt là DN may; Thứ hai: Khi phân tích các yếu tố cấu thành tài sản cạnh tranh của DN, tác giả chỉ đề cập tới 4 yếu tố là: cơ sở hạ tầng, tài chính, công nghệ và con người. Sẽ thực sự thiếu sót nếu đưa mô hình trên để nghiên cứu về NLCT của DN may mà không đề cập tới yếu tố quan trọng cấu thành tài sản cạnh tranh của DN may đó là: tài sản trí tuệ. Tài sản trí tuệ bao gồm: kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu của sản phẩm, thương hiệu của DN, chỉ dẫn địa lý, các sáng chế và giải pháp hữu ích,.
Thứ ba: Các chỉ tiêu được tác giả đề cập tới để kiểm chứng tiến trình cạnh tranh ngoài chỉ tiêu chất lượng sản phẩm, 3 chỉ tiêu còn lại mang tính định tính rất cao, khó để áp dụng trong đánh giá tiến trình cạnh tranh của DN Việt Nam trong đó có DN may. Thêm nữa, tác giả chưa đề cập tới 4 chính sách marketing cơ bản (4P) khi nghiên cứu tiến trình cạnh tranh gồm: chính sách sản phẩm (Product), chính sách giá (Price), chính sách phân phối (Place) và chính sách xúc tiến hỗn hợp (Promotion). 6 Phương thức sản xuất của DN cũng chưa được tác giả đề cập. Phương thức sản xuất được hiểu là cách thức DN tiến hành để đưa sản phẩm do DN sản xuất ra thị trường.
Nguyễn Hữu Thắng (2008), “Nâng cao NLCT của các DN Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay” [20]. Nghiên cứu chỉ ra những yếu tố hàng đầu đánh giá NLCT DN Việt Nam là: mô hình tổ chức DN, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, năng lực cán bộ quản lý DN. Bên cạnh đó, NLCT DN Việt Nam còn được đánh giá thông qua của các yếu tố: vốn, công nghệ, lao động. Thông qua việc nghiên cứu, tổng hợp lý luận về cạnh tranh DN; phân tích thực trạng NLCT, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao NLCT của DN Việt Nam.
Cụ thể như sau: (1) Đổi mới tổ chức, nâng cao năng lực quản lý DN; (2) Nâng cao năng lực marketing của DN; (3) Sử dụng có hiệu quả và nâng cao năng lực công nghệ; (4) Sử dụng có hiệu quả và nâng cao chất lượng nhận thức của DN; (5) Tăng cường liên kết, hợp tác giữa các DN với các đối tác trong và ngoài nước. Trần Hữu Cường và các cộng sự (2011), khả năng cạnh tranh của DN nhỏ và vừa ở nông thôn Việt Nam trong bối cảnh hội nhập [4]. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân tích khả năng cạnh tranh của DN dựa trên 3 góc độ: (1) Các tài sản cạnh tranh (máy móc, thiết bị, công nghệ, lao động, vốn,. Phạm Duy Hưng (2012) [9], đã nghiên cứu giải pháp nâng cao NLCT cho các DNNVV của Việt Nam.
Tác giả đã chỉ ra sự đóng góp rất lớn của các DNNVV đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước về mọi mặt như: tạo việc làm và nâng cao mức sống cho người lao động; đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước. Trong nghiên cứu này, tác giả khái quát được các yếu tố cấu thành nên NLCT của DN bao gồm: (1) trình độ khoa học công nghệ của DN. Nếu DN có dây chuyền sản xuất lạc hậu và không nhận thức được đầy đủ vai trò của công nghệ cũng như việc đổi mới công nghệ, tốc độ đổi mới máy móc, khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ mới của các DN chậm thì NLCT của DN yếu. (2) năng lực tài chính được đo lường thông qua chỉ tiêu vốn kinh doanh.
(3) năng lực quản lý được tác giả đánh giá thông qua trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý của DN. Mặc dù đã liệt kê và phân tích tương đối chi tiết về các điểm tồn tại trong việc nâng cao NLCT của các DN nhỏ và vừa của Việt Nam cũng như đề xuất được các giải pháp để giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, nghiên cứu này còn có một số điểm hạn chế như sau: 7 Thứ nhất: Khi phân tích thực trạng NLCT của DN, tác giả mới chỉ đề cập tới trình độ khoa học công nghệ, năng lực tài chính và năng lực quản lý. Đây là các tiêu chí phản ánh năng lực nội sinh của DN hay chính là tài sản cạnh tranh theo cách gọi của Khader.
Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đầy đủ các tiêu chí tạo nên tài sản cạnh tranh của DN, đặc biệt là DN may, đó là: tài sản trí tuệ, nhân lực của DN; Thứ hai: Các chính sách marketing, phương thức sản xuất và thông tin về lợi nhuận của DN chưa được tác giả đề cập trong nghiên cứu này. Tác giả cũng khẳng định: “NLCT của DN tạo ra từ thực lực của DN. Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi DN, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị DN… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong DN được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh.” Bằng những nghiên cứu của mình, tác giả cũng khẳng định: “Không một DN nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng.
Thường thì DN có lợi thế về mặt này và có hạn chế về mặt khác”. Điều này có thể hiểu rằng, các DN cần phát huy tốt những điểm mạnh của mình, hạn chế điểm yếu kết hợp với việc tận dụng tốt các cơ hội từ thị trường và lường trước được những nguy cơ có thể xảy đến với mình.