đặt vấn đề, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu hoàn toàn khác so với Luận văn. Tác giả đi sâu đánh giá thực trạng DN Việt Nam và NLCT của DN Việt Nam ở góc độ các yếu tố bên ngoài, hoàn toàn khác so với cách tiếp cận và thực hiện của Luận văn là tập trung đánh giá, phân tích NLCT của DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng ở góc độ các yếu tố bên trong, đó là năng lực tổ chức quản lý DN, năng lực marketing, năng lực tài chính, năng lực tiếp cận và đổi mới công nghệ, năng lực tổ chức dịch vụ, năng lực tạo lập các mối quan hệ, trình độ của ngƣời lao động trong DN và năng lực nghiên cứu phát triển. Đây là sự khác biệt trong hƣớng nghiên cứu của Luận văn với Tác giả của công trình nghiên cứu trên.
Thứ ba, ở các tài liệu tham khảo khác nhƣ “Năng lực cạnh tranh và nhân tố ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, một nghiên 6 cứu tổng quan” của Phạm Thu Hƣơng (2016), “Sử dụng chỉ số hài lòng của khách hàng trong hoạch định chiến lƣợc kinh doanh ngân hàng: cách tiếp cận mô hình lý thuyết” của Lê Văn Huy và “Các nhân tố nội tại ảnh hƣởng đến năm lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh tế tƣ nhân tại thành phố Cần Thơ” của Huỳnh Thanh Nhã và La Hồng Liên (2015): Luận văn đã tiếp thu cơ sở lý thuyết, cách phân tích dữ liệu và chạy mô hình toán (kinh tế lƣợng) bằng công cụ xử lý dữ liệu SPSS. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm cạnh tranh Hiện nay có nhiều khái niệm, cách hiểu và định nghĩa khác nhau về CT, trong bối cảnh thuật ngữ CT ngày càng phổ biến do tính phổ dụng và nhu cầu nghiên cứu từ nhiều đối tƣợng, cần có cách hiểu cơ bản và thống nhất để tạo tiền đề cho việc nghiên cứu một cách có hệ thống. Đến nay, có những cách hiểu và bản chất của CT theo các nhà nghiên cứu, học giả nhƣ sau: Thứ nhất, Theo K.
Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà Tƣ bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch” [28]. Thứ hai, theo hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn Kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các DN cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trƣờng” [37]. Họ còn đồng nhất cạnh tranh với cạnh tranh hoàn hảo. Thứ ba, theo R.L Rubinfeld trong cuốn Kinh tế học vi mô cho rằng: “Thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo là thị trƣờng có nhiều ngƣời mua và ngƣời bán và không một cá nhân ngƣời mua hoặc ngƣời bán nào có ảnh hƣởng đáng kể tới giá cả” [32].
Thứ tư, theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam (tập 1) “Cạnh tranh (trong hoạt động kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hóa, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trƣờng có lợi nhất” [11]. 8 Thứ năm, theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm: “Cạnh tranh trong thƣơng trƣờng không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn đối thủ cạnh tranh của mình” [10]. Nhìn chung, từ những định nghĩa trên, có thể thấy về cơ bản, cạnh tranh là quá trình một chủ thể nỗ lực vƣợt qua đối thủ của mình để đạt đƣợc một hay một số mục tiêu nhất định [28]. Từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên cho thấy, CT không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau giữa các chủ thể tham gia, mà CT là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp.
CT góp phần cho sự tiến bộ của khoa học, giúp cho các chủ thể tham gia biết quý trọng hơn những cơ hội và lợi thế mà mình có đƣợc, cạnh tranh mang lại sự phồn thịnh cho đất nƣớc. Thông qua CT, các chủ thể tham gia xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách thức trƣớc mắt và trong tƣơng lai, để từ đó có những hƣớng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào vấn đề cạnh tranh. Phân loại các loại hình cạnh tranh Tùy theo khía cạnh và giác độ phân loại có thể có nhiều hình thức cạnh tranh khác nhau, một số hình thức cơ bản nhƣ sau: a. Căn cứ vào chủ thể tham gia: cạnh tranh bao gồm cạnh tranh giữa ngƣời mua và ngƣời bán, cạnh tranh giữa những ngƣời mua với nhau và cạnh tranh giữa những ngƣời bán với nhau.
Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế: cạnh tranh bao gồm cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành. Căn cứ vào tính chất (trạng thái) cạnh tranh: cạnh tranh bao gồm cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition), cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition) và cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition). Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh: cạnh tranh bao gồm cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. eo n v c cạn tr n : cạnh tranh bao gồm cạnh tranh trong sản xuất và cạnh tranh trong lƣu thông.
Chức năng của cạnh tranh ứ n ất, nhằm điều chỉnh quan hệ giữa cung và cầu, chức năng này còn đƣợc gọi là chức năng đảm bảo độ thỏa dụng của ngƣời tiêu dùng. ứ , nó định hƣớng việc sử dụng các nhân tố sản xuất vào những nơi có hiệu quả nhất, làm cực tiểu tổng giá thành của sản xuất xã hội, chức năng này còn gọi là chức năng phân bổ các nguồn lực của cạnh tranh. ứ , nó tạo điều kiện cho việc thích ứng linh hoạt với sự biến động của cầu và công nghệ sản xuất. ứ tư, phân phối lại thu nhập một cách hợp lý.
ứ năm, th c đẩy đổi mới, chức năng này còn gọi là chức năng kích thích tiến bộ khoa học. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm Khái niệm NLCT đƣợc xuất hiện và đề cập lần đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1980. Cùng với sự phát triển vƣợt bậc của các lĩnh vực kinh tế, chính trị, đầu tƣ, tài chính,… trong những năm gần đây, khái niệm NLCT ngày càng nhận đƣợc sự quan tâm, phổ biến hơn và đƣợc thảo luận, tranh luân trong nhiều Chƣơng trình, Hội nghị, Hội thảo, Nghị sự cấp quốc gia và quốc tế.
Theo đó, cũng còn có khá nhiều cách hiểu khác nhau, bản chất NLCT và NLCT của DN bởi nhiều nhà nghiên cứu, học giả và nguồn nghiên cứu nhƣ sau: a. Về Năng c cạnh tranh Thứ nhất, theo Từ điển thuật ngữ kinh tế học, NLCT là khả năng giành đƣợc thị phần lớn trƣớc các đối thủ CT trên thị trƣờng, kể cả khả năng giành 10 lại một phần hay toàn bộ thị phần của đối thủ [13]. Thứ hai, theo nghĩa rộng nhất, NLCT địa hạt lãnh thổ (territorial competitiveness) là những hành động đƣợc thực hiện bởi các đại diện kinh tế ở một khu vực địa lý cụ thể để đảm bảo sự tăng lên trong tiêu chuẩn cuộc sống cho những công dân của mỗi địa hạt lãnh thổ đó. Theo Jaques Poot (2000) đã sử dụng thuật ngữ này để nhấn mạnh sự thật rằng cạnh tranh địa hạt lãnh thổ có thể diễn ra tại nhiều cấp độ khác nhau: cấp độ TP, cấp độ từng khu vực lãnh thổ trong một quốc gia và cạnh tranh ở cấp độ quốc gia [33].
Thứ ba, theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa NLCT là “khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững” [30]. Thứ tư, theo Diễn đàn kinh tế thế giới (Porter, Salai-Martin, Schwab, 2007), NLCT là tập hợp các thể chế, chính sách và nhân tố quy định mức năng suất của một thành phố hay một vùng lãnh thổ. Sử dụng năng suất là thƣớc đo cơ bản, khái niệm NLCT vì vậy sẽ bao gồm cả mức độ tăng trƣởng kinh tế và khả năng tăng trƣởng bền vững [42]. Trong Báo cáo thƣờng kỳ lần thứ sáu về các vùng lãnh thổ, “NLCT đƣợc định nghĩa nhƣ khả năng sản xuất hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn yêu cầu của thị trƣờng quốc tế, trong khi vẫn phải đảm bảo yêu cầu về sự gia tăng thu nhập và toàn dụng nhân lực của quốc gia mình, hay nói chung hơn, đó là khả năng của các vùng lãnh thổ tạo ra mức thu nhập và việc làm tƣơng đối cao trong bối cảnh đối mặt với sự cạnh tranh từ bên ngoài”.
Nói cách khác, “để một vùng lãnh thổ trở nên cạnh tranh, điều quan trọng là phải đảm bảo đƣợc chất lƣợng và số lƣợng việc làm” [41]. Về Năng c cạnh tranh của doanh nghiệp Từ trƣớc đến nay, khái niệm NLCT nói chung và NLCT của DN nói riêng đã đƣợc nhắc đến rất nhiều nhƣng đến nay khái niệm này vẫn chƣa đƣợc 11 hiểu một cách thống nhất. Mặc dù vậy, hầu nhƣ tất cả các học giả nghiên cứu và giới quản trị đều thừa nhận rằng NLCT của DN thƣờng đƣợc mô tả nhƣ là cấp độ rõ ràng nhất của khái niệm NLCT. Đây là việc DN cạnh tranh với các DN khác trên thị trƣờng và theo M.
Thứ nhất, NLCT đồng nghĩa với năng suất lao động. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), NLCT của DN là sức sản xuất ra thu nhập tƣơng đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các DN phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế [30]. Thứ hai, NLCT của DN là khả năng chống chịu trƣớc sự tấn công của DN khác. Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực cạnh tranh của Mỹ (2001) đƣa ra định nghĩa: “NLCT là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trƣờng thế giới…” [40].
Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế có trích dẫn khái niệm NLCT theo Từ điển Thuật Ngữ chính sách thƣơng mại (2005), theo đó, NLCT là năng lực của một DN “không bị DN khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Quan niệm về NLCT nhƣ vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lƣợng [28] [48].