Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGUYÊN CỨU 1. Tổng quan về hệ thống đánh lửa trên động cơ đốt trong 1.Công dụng, phân loại, yêu cầu 1. Công dụng Hệ thống đánh lửa (HTĐL) có nhiệm vụ biến dòng điện một chiều thế hiệu thấp(6,12 hay 24V) hoặc các xung điện một xoay chiều thế hiệu thấp ( trong HTĐL bằng Manhêtô) thành các xung điện cao thế (12000 … 24000V) đủ để tạo nên tia lửa (phóng qua khe hở bougie) đốt cháy hỗn hợp làm việc trong các xi lanh của động cơ vào những thời điểm thích hợp tương ứng với trình tự xi lanh và chế độ làm việc của động cơ.Phân loại Theo đặc điểm cấu tạo và nguyên lý làm việc , HTĐL được chia thành 3 loại: Loại đánh lửa dùng ắc quy: đây là loại đánh lửa thông thường hay HTĐL cổ điển; Loại bán dẫn hay điện tử: Với sự có mặt của các linh kiện bán dẫn trong thành phần cấu tạo. Đây là HTĐL mới, có nhiều ưu điểm hơn hẳn loại HTĐL thông thường và có xu thế thay thế dần các HTĐL thường; Loại đánh lửa bằng Manhêtô hoặc Vôlăng manhêtíc : Là loại HTĐL cao áp độc lập, không cần đến ắc quy máy phát và có độ tin cậy cao; Loại nhiều tia lửa điện liên lục: Là loại cơ cấu đánh lửa dùng để sấy nóng môi chất; Theo dạng năng lượng được tích lũy trước khi đánh lửa: Hệ thống đánh lửa được chia 2 loại: Loại điện cảm: Bao gồm các HTĐL thường, đánh lửa bán dẫn dùng Transitor, Manhêtô.
Ở loại này, năng lượng đánh lửa được tích lủy trong từ trường của biến áp đặc biệt gọi là biến áp đánh lửa; Loại điện dung: là loại HTĐL mới về nguyên lý và có rất nhiều ưu điểm nên hiện nay được sử dụng nhiều trên ôtô, xe máy hiện đại. Ở loại này, năng lượng đánh lửa được tích lũy không phải trong từ trường của biến áp đánh lửa mà trong một tụ điện đặc biệt gọi là tụ tích.Yêu cầu Hệ thống đánh lửa phải đáp ứng các yêu cầu chính sau: -Phải đảm bảo thế hiệu đủ để tạo ra được tia lửa điện phóng qua khe hở giữa các điện cực của bugi; - Tia lửa điện phải có năng lượng đủ lớn để đốt cháy được hỗn hợp làm việc trong mọi điều kiện làm việc của động cơ; - Thời điểm đánh lửa phải tương ứng với góc đánh lửa sớm hợp lý nhất ở mọi chế độ làm việc của động cơ; - Độ tin cậy làm việc của HTĐL phải tương ứng với độ tin cậy làm việc của động cơ. Nguyên lý hoạt đông của HTĐL.1 Nguyên lý tạo ra dòng điện cao áp. Hiện tượng tự cảm: Trường điện tứ được sinh ra khi có 1 dòng điện chạy qua một cuộn dây, kết quả là sinh ra một sức điện động và tạo ra một từ thông có hướng cản trở sự sinh ra của từ thông trong cuộn dây.
Do đó dòng điện không chạy qua cuộn dây ngay khi được dẫn vào cuộn dây, mà nó sẽ tăng sau một thời gian nhất định, hơn nữa khi dòng điện chạy qua trong cuộn dây và nó bị cắt một cách đột ngột, sức điện động sinh ra cùng hướng với dòng điện (hướng cản lại sự suy giảm của từ thông). Như vậy khi dòng điện bắt đầu chạy trong cuộn dây hoặc khi các dòng điện trong cuộn dây sinh ra sức điện động có hướng tác dụng cản trở sự thay đổi từ thông trong cuộn dây. Hiện tương đó gọi là hiện tượng tự cảm. Hiện tượng tự cảm tương hỗ: Khi có hai cuộn dây được đặt trên một đường thẳng, dòng điện trong cuộn dây cuộn sơ cấp làm thay đổi sức điện động sinh ra trong cuộn dây thứ cấp có hướng cản lại sự thay đổi trong cuộn dây sơ cấp.
Hiện tượng đó gọi là hiện tượng tự cảm tương hỗ. Nguyên lý của hệ thống đánh lửa. Trong động cơ xăng, hoà khí được đưa vào xi lanh và được trộn đều nhờ sự xoáy lốc của dòng khí, sau đó piston nén lại. Tới thời điểm thích hợp thi HTDL sẽ cung cấp lửa cao thế để đốt cháy hỗn hợp hoà khí.
Quá trình đốt cháy đó được chia làm 3 giai đoạn là: Quá trình tăng dòng sơ cấp, quá trình ngắt dòng sơ cấp và thời kỳ xuất hiện tia lửa ở cực bougie. Lịch sử phát triển của Hệ thống đánh lửa. Kiểu điều khiển bằng má vít Nguyên lý làm việc của hệ thống đánh lửa má vít. Cam 1 của bộ chia điện quay nhờ truyền động từ trục cam của động cơ và làm nhiệm vụ mở tiếp điểm KK’, cũng có nghĩa là ngắt dòng điện sơ cấp của biến áp đánh lửa 3.
Khi đó, từ thông đi qua cuộn thứ cấp do dòng điện sơ cấp gây nên sẽ mất đi đột ngột, làm xuất hiện một sức điện động cao thế trong cuộn thứ cấp W 2. Điện áp này sẽ qua con quay chia điện 4 và dây cao áp đến các bougie đánh lửa 5 theo thứ tự thì nổ của động cơ. Khi điện áp thứ cấp đạt giá trị đánh lửa, giữa hai điện cực của bougie sẽ xuất hiện tia lửa điện để đốt cháy hỗn hợp trong xi lanh. Kiểu hệ thống đánh lửa này có cấu tạo cơ bản nhất.
Trong kiểu hệ thống đánh lửa này, dòng sơ cấp và thời điểm đánh lửa được điều khiển bằng cơ. Dòng sơ cấp của bô bin được điều khiển cho chạy ngắt quãng qua tiếp điểm của vít lửa. Bộ điều chỉnh đánh lửa sớm li tâm tốc và chân không điều khiển thời điểm đánh lửa. Bộ chia điện sẽ phân phối điện cao áp từ cuộn thứ cấp đến các bougie.
Trong kiểu hệ thống đánh lửa này tiếp điểm của vít lửa cần được điều chỉnh thường xuyên hoặc thay thế. Một điện 5 trở phụ được sử dụng để giảm số vòng dây của cuộn sơ cấp, cải thiện đặc tính tăng trưởng dòng của cuộn sơ cấp, và giảm đến mức thấp nhất sự giảm áp của cuộn thứ cấp ở tốc độ cao. Hệ thống đánh lửa bằng má vít 1. Hệ thống đánh lửa bán dẫn Đối với hệ thống đánh lửa cơ khí, tiếp điểm của hệ thống yêu cầu phải được kiểm tra và bảo dưỡng định kỳ vì chúng bị hỏng bởi các tia lửa hồ quang trong quá trình sử dụng làm mòn tiếp điểm dẫn đến thời điểm đánh lửa thiếu chính xác.
Để khắc phục khuyết điểm đó vào những năm 1970 người ta đã phát minh ra hệ thống đánh lửa bán dẫn. Hệ thống đánh đã sử dụng các linh kiện bán dẫn tramsitor để đóng mở dòng điện sơ cấp thay thế cho tiếp điểm kim loại. Từ đó nâng cao tính hiệu quả của hệ thống đánh lửa và xóa bỏ yêu cầu bảo dưỡng định kỳ, như vậy giảm được 6 giá thành bảo dưỡng cho người sử dụng và tạo được tia lửa mạnh ở điện cực bougie, đáp ứng tốt ở các chế độ làm việc của động cơ, tuổi thọ cao. Trong kiểu hệ thống đánh lửa này transistor điều khiển dòng sơ cấp, để nó chạy một cách gián đoạn theo đúng các tín hiệu điện được phát ra từ bộ phát tín hiệu.
Góc đánh lửa sớm được điều khiển bằng cơ như trong kiểu hệ thống đánh lửa bằng vít hoặc có thể dùng các cảm biến vị trí như loại quang, Hall. Kiểu bán dẫn có ESA (Đánh lửa Sớm bằng điện tử) Trong kiểu hệ thống đánh lửa này không sử dụng bộ đánh lửa sớm chân không và li tâm. Thay vào đó, chức năng ESA của Bộ điều khiển điện tử (ECU) sẽ điều khiển góc đánh lửa sớm. Hệ thống ESA 1.
Hệ thống đánh lửa trực tiếp (DIS) Thay vì sử dụng bộ chia điện, hệ thống này sử dụng bô bin đơn hoặc đôi cung cấp điện cao áp trực tiếp cho bougie. Thời điểm đánh lửa được điều khiển bởi ESA của ECU động cơ. Trong các động cơ gần đây, hệ thống đánh lửa này chiếm ưu thế.4 Hệ thống DIS 7 1.Hệ thống đánh lửa điều khiển bằng kỹ thuật số. Được gọi là hệ thống đánh lửa theo chương trình.
Việc điều khiển góc đánh lửa sớm và góc ngậm điện (dwell angle) sẽ được máy tính đảm nhận. Các thông số như tốc độ động cơ, tải, nhiệt độ được các cảm biến mã hóa tín hiệu đưa vào ECU (electronic control unit) xử lý và tính toán để đưa ra góc đánh lửa sớm tối ưu theo từng chế độ hoạt động của động cơ.Khái quát về đánh lửa sớm điện tử (ESA). Hệ thống ESA là một hệ thống dùng ECU động cơ để xác định thời điểm đánh lửa dựa vào các tín hiệu từ các cảm biến khác nhau. Số tín hiệu vào càng nhiều thì việc xác định góc đánh lửa sớm tối ưu càng chính xác.
Sơ đồ hệ thống đánh lửa với cơ cấu điều khiển góc đánh lửa sớm bằng điện tử có thể chia thành 3 thành phần: tín hiệu vào (input signals), ECU và tín hiệu điều khiển igniter (output signals).5 : So sánh đặc tuyến điều chỉnh góc đánh lửa sớm điện tử và cơ khí 8 Hinh 1.6 Sơ đồ ESA với cơ cấu đánh lửa sớm bằng điện tử Ngoài ra còn có thể có các tín hiệu vào từ cảm biến nhiệt độ khí nạp, cảm biến tốc độ xe, cảm biến oxy. Sau khi nhận tín hiệu từ các cảm biến ECU động cơ tính toán thời điểm đánh lửa tối ưu được lưu trong bộ nhớ để phù hợp với từng chế độ hoạt động của động cơ, sau đó gửi tín hiệu đánh lửa thích hợp đến IC đánh lửa. Trong các tín hiệu ngõ vào, tín hiệu tốc độ động cơ, vị trí piston (cốt máy) và tín hiệu tải là các tín hiệu quan trọng nhất. Để xác định tốc độ động cơ, người ta có thể đặt cảm biến trên một vành răng ở đầu cốt máy, bánh đà, đầu cốt cam hoặc delco.
Để xác định tải của động cơ, ECU dựa vào tín hiệu áp suất trên đường ống nạp hoặc tín hiệu lượng khí nạp. Do sự thay đồi về áp suất trên đường ống nạp khi thay đổi tải, tín hiệu điện áp gởi về ECU sẽ thay đổi và ECU nhận tín hiệu này để xử lí và quy ra mức tải tương ứng để xác định góc đánh lửa sớm. Trong các hệ thống đánh lửa trước đây, việc hiệu chỉnh góc đánh lửa sớm được thực hiện bằng phương pháp cơ khí với cơ cấu ly tâm và áp thấp. Đường đặc tính đánh lửa sớm tối ưu rất đơn giản và không chính xác.
Trong khi đó, đường đặc tính đánh lửa lý tưởng được xác định bằng thực nghiệm rất phức tạp và phụ thuộc vào nhiều thông số. Đồ thị hình 1 mô tả sự sai lệch giữa 2 kiểu điều khiển góc đánh lửa sớm bằng điện tử và cơ khí.