CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT, Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT 1. Ý THỨC PHÁP LUẬT – HÌNH THÁI QUAN TRỌNG CỦA Ý THỨC XÃ HỘI. Khái niệm pháp luật và ý thức pháp luật. Pháp luật là gì? Để quản lý xã hội, mỗi Nhà nước phải xây dựng và ban hành hệ thống quy tắc xử sự chung áp dụng cho mọi cá nhân, tổ chức diễn ra trong vòng trật tự ổn định.
Hệ thống quy tắc chung đó được gọi là pháp luật, vậy pháp luật là gì? Trong lịch sử triết học pháp luật trên thế giới, đặc biệt ở Phương Tây có thể thấy rằng nhiều nhà tư tưởng, học giả đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về pháp luật, cụ thể như: Cicero(106 – 43tr.CN) vừa là triết gia, vừa là luật gia thời La Mã Cổ đại khẳng định pháp luật là “sự phân biệt giữa những thứ công bằng và bất công”. Theo quan điểm của Cicero luật và công lý là đồng nhất và pháp luật được coi là hiện thân của công lý. Augustine – là triết gia thần học La Mã cho rằng “chỉ có luật công bằng mới là luật, còn luật bất công không phải là luật”. Đối với Thomas Aquinas (1225 – 1275), triết gia thần học người Ý thì cho rằng: “Pháp luật không phải là gì khác hơn là một mệnh lệnh của lý trí vì mục tiêu tốt đẹp của cộng đồng”, có nghĩa là những gì bất hợp lý trong pháp luật sẽ không nên được xem là pháp luật.
John Locke (1632-1704), triết gia người Anh, cha đẻ của chủ nghĩa tự do cổ điển nói rằng “Pháp luật không là gì khác hơn chính là các giới hạn đối với cá nhân thông minh và tự do trong việc theo đuổi lợi ích hợp lý của mình, và đặt ra 8 yêu cầu không vượt quá yêu cầu đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng người chịu sự điều chỉnh của luật đó”. Nói cách khác, theo John Locke, pháp luật là đường phân ranh giới tự do giữa người với người, đường ranh giới mà nếu vượt qua nó thì tự do của người này sẽ xâm phạm tới tự do của người khác và hệ quả là con người sẽ không còn tự do. Cũng theo John Locke “mục đích tối hậu của pháp luật là để tạo lập, bảo vệ và mở rộng tự do cá nhân của con người chứ không phải là để xóa bỏ hoặc hạn chế tự do cá nhân….và sẽ không có tự do nếu không có sự hiện diện của pháp luật”. Đối với Karl Marx(1818 – 1883), thì pháp luật của xã hội tư sản chẳng qua chỉ là “ý chí của các giai cấp tư sản được nâng lên thành pháp luật áp dụng chung cho tất cả mọi người – thứ ý chí mà nội dung chủ yếu của nó do điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp tư sản quyết định”[13, Nguồn Internet].
Ở phương Đông, điển hình triết học Trung Quốc cổ đại, với tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử, ông đã dựa vào thuyết tính ác của Tuân Tử để khẳng định tính đúng đắn của chủ trương pháp trị. Hàn Phi cho rằng, mặc dù có những bậc hiền nhân nhưng nhìn chung con người có bản tính ích kỷ, thích tìm điều lợi và tránh điều hại. Vì thế, người ta luôn chỉ lo mưu lợi cho bản thân mình. Do đó, phải căn cứ vào tâm lý “tránh hại và cầu lợi” của con người để đặt ra pháp luật, trọng thưởng, nghiêm phạt để duy trì trật tự xã hội[1, tr.
Hàn Phi cho rằng là người đầu tiên phải coi trọng ba yếu tố “Pháp – thế - thuật”, là ba yếu tố thống nhất không thể tách rời trong đường lối trị nước bằng pháp luật. Theo Hàn Phi “Pháp là pháp luật và pháp luật phải được công bố cho mọi người biết để tuân theo. Pháp luật phải thay đổi phù hợp với tình hình cụ thể “không có một thứ pháp luật luôn luôn đúng với thời đại” (Hàn Phi Tử, Ngũ đố). “Phép trị dân không cố định khi dùng pháp luật để trị mà thôi”.
“Pháp luật mà biến chuyển được theo với thời đại thì thiên hạ sẽ trị….Thời thế thay đổi mà phép trị dân không thay đổi thì loạn” [1,tr. 9 Như vậy, có thể thấy sự khác biệt trong quan niệm của các nhà triết học nổi tiếng nói trên về khái niệm pháp luật. Tuy là khái niệm dùng để diễn tả một hiện tượng xã hội tồn tại khách quan nhưng đã bị lăng kính chủ quan của người nhìn nhận làm cho nó khác đi. Trong ngôn ngữ hiện đại ngày nay, quan niệm pháp luật đều mang tính chất chính trị của nó, pháp luật được hiểu là:“Một tập hợp các quy tắc để điều chỉnh hành vi của con người được áp dụng chung cho tất cả các thành viên trong một cộng đồng hoặc một xã hội xác định, có nguồn gốc từ chính quyền chính đáng và được thực thi bởi các cơ quan của chính quyền này thông qua việc áp dụng các chế tài phạt cho các chủ thể có hành vi vi phạm”.
Hay nói cách khác, “Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp nắm quyền lãnh đạo xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội”[64, tr. Hệ thống quy phạm pháp luật đó do nhà nước đặt ra và được nhà nước bảo đảm thực hiện, được bảo vệ bằng các biện pháp tổ chức, giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế của bộ máy nhà nước. Ở nước ta, hiện nay đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do đó, các hệ thống pháp luật do Nhà nước Việt Nam – đại diện quyền lực của giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức đặt ra, thể hiện ý chí, nguyện vọng và lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, có tính chất bắt buộc chung đối với toàn xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam XHCN. Ý thức pháp luật: Có rất nhiều quan niệm khác nhau về ý thức pháp luật, bởi nó được nghiên cứu dưới nhiều góc độ và những cách tiếp cận khác nhau, như: Triết học, luật học hay xã hội học pháp luật.
Từ góc độ triết học, ý thức pháp luật được hiểu là một trong những hình thái của ý thức xã hội (ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức thẫm mỹ, ý thức tôn giáo, ý thức xã 10 hội). Ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức xã hội, ra đời từ thực tiễn đời sống xã hội và phản ánh tồn tại xã hội. Ý thức xã hội xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước, phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh tế - xã hội, mà trước hết, là những quan hệ sản xuất được thể hiện trong các luật lệ nhà nước. Ý thức pháp luật xuất hiện cùng với sự xuất hiện của pháp luật, nó là sản phẩm của quá trình phát triển xã hội, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các hệ tư tưởng, quan điểm, quan niệm trong xã hội.“Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm pháp lý tồn tại trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật, đối với quá trình điều chỉnh pháp luật, sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong xử sự của cá nhân, cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội”[2, tr.
Quan niệm này đã làm rõ được chủ thể ý thức pháp luật, trình độ hiểu biết đối với pháp luật và thái độ, sự đánh giá, điều chỉnh hành vi của con người theo pháp luật. Bởi lẽ, ý thức pháp luật là bộ phận của ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại xã hội từ góc độ pháp luật, thể hiện trình độ hiểu biết pháp luật và thái độ đối với pháp luật của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân trong xã hội có giai cấp. Theo đó, ý thức pháp luật và pháp luật là những bộ phận của kiến trúc thượng tầng, chịu sự quy định và bị chi phối bởi các yếu tố trong cơ sở hạ tầng mà quan trọng nhất là các điều kiện kinh tế. Vì thế, những nội dung của ý thức pháp luật và những quy định của pháp luật xét đến cùng, chính là sự phản ánh đời sống hiện thực khách quan, phản ánh sự vận động, biến đổi và phát triển của đời sống mà trong đó ý thức pháp luật thể hiện ra.
Với tư cách là một bộ phận của ý thức xã hội, ý thức pháp luật xuất hiện, nảy sinh trên nền tảng tồn tại xã hội nhất định. Vì thế, tồn tại xã hội và ý thức pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau, cụ thể: 11 Tồn tại xã hội quyết định ý thức pháp luật và ý thức pháp luật chỉ là sự phản ánh tồn tại xã hội. Ý thức pháp luật phản ánh tồn tại xã hội từ góc độ pháp luật, thể hiện trình độ hiểu biết pháp luật và thái độ đối với pháp luật của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân trong xã hội có giai cấp. Do đó, những nội dung của ý thức pháp luật và các quy định của pháp luật, xét đến cùng, chính là sự phản ánh đời sống hiện thực khách quan, phản ánh sự vận động, biến đổi và phát triển của đời sống mà trong đó ý thức pháp luật được thể hiện bằng các hành vi cụ thể.Mác đã khẳng định :“Nhà lập pháp phải coi mình như nhà khoa học tự nhiên.
Ông ta không làm ra pháp luật, ông ta không phát minh ra chúng mà chỉ nêu chúng lên; ông ta biểu hiện những quy luật nội tại của những mối quan hệ tinh thần thành những đạo luật thành văn có ý thức. Chúng ta sẽ phải chê trách nhà lập pháp và vô cùng tùy tiện, nếu như ông ta thay thế bản chất của sự việc bằng những điều bịa đặt của mình”[8; tr. Như vậy, trong mối quan hệ với tồn tại xã hội, ý thức pháp luật là cái bị quy định. Mọi sự vận động, biến đổi và phát triển của ý thức pháp luật đều có căn nguyên từ những thay đổi, vận động và phát triển của đời sống xã hội.
Và, mặc dù là cái ổn định hơn so với sự biến động của đời sống xã hội, nhưng cuối cùng dù sớm hay muộn, ý thức pháp luật cũng phải thay đổi theo sự biến đổi của xã hội.Mác nói: “Một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của các cuộc cải cách xã hội tách biệt với pháp luật.