phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò quản lý nhà nƣớc đối với ngành chăn nuôi bò sữa. Chƣơng 2: Thực trạng vai trò quản lý nhà nƣớc đối với ngành chăn nuôi bò sữa ở Đồng Nai và những vấn để đặt ra. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao vai trò quản lý nhà nƣớc đối với ngành chăn nuôi bò sữa ở Đồng Nai. 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÕ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI NGÀNH CHĂN NUÔI BÕ SỮA 1.
TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHĂN NUÔI BÕ SỮA Ở VIỆT NAM 1. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành chăn nuôi bò sữa Trong nông nghiệp, chăn nuôi là một ngành kinh tế quan trọng, nó phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên và khí hậu. Tuy nhiên, những đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành chăn nuôi đặc biệt là bò sữa có vai trò quan trọng và có những đặc điểm riêng: Thứ nhất, đối tượng tác động của ngành chăn nuôi bò sữa là các cơ thể sống động vật, là một loài động vật có hệ thần kinh cao cấp, có những tính qui luật sinh vật nhất định. Để tồn tại bò sữa luôn luôn cần đến một lượng tiêu tốn thức ăn tối thiểu cần thiết thường xuyên, không kể rằng con bò sữa đó có nằm trong quá trình sản xuất hay không.
Từ đặc điểm này, đặt ra cho người sản xuất ba vấn đề, đó là: - Bên cạnh việc đầu tư cơ bản cho đàn bò sữa phải đồng thời tính toán phần đầu tư thường xuyên về thức ăn để duy trì và phát triển đàn bò sữa. Nếu cơ cấu đầu tư giữa hai phần trên không cân đối thì tất yếu sẽ dẫn đến dư thừa, lãng phí hoặc sẽ làm chậm sự phát triển, thậm chí phá hủy cả đàn bò sữa. - Phải đánh giá chu kỳ sản xuất và đầu tư cho chăn nuôi bò sữa một cách hợp lý trên cơ sở tính toán cân đối giữa chi phí sản xuất và sản phẩm tạo ra, giữa chi phí đầu tư xây dựng cơ bản và giá trị đào thải để lựa chọn thời điểm đào thải, lựa chọn phương thức đầu tư mới hay duy trì tái tạo phục hồi. - Do có hệ thần kinh khá hoàn thiện, nên con bò sữa rất nhạy cảm với môi trường sống, do đó đòi hỏi phải có sự quan tâm chăm sóc hết sức ưu ái, phải có biện pháp kinh tế, kỹ thuật để phòng trừ dịch bệnh, đồng thời tạo điều kiện ngoại cảnh thích hợp cho bò sữa phát triển.
9 Thứ hai, bò sữa là một loại tài sản cố định đặc biệt, có giá trị cao, có chu trình kinh tế đặc biệt, phải có thời gian gián đoạn lao động tức là thời gian sinh trưởng đạt tới trình độ nhất định mới cho sản phẩm. Thông thường, đòi hỏi phải qua một thời gian từ 3 năm mới có khả năng sinh sản và cho sữa. Thứ ba, sản xuất kinh doanh sản phẩm có giá trị kinh tế cao, phải chi phí một lượng vốn lớn. Vì sản phẩm chăn nuôi bò sữa là các sản phẩm thịt và sữa có giá trị dinh dưỡng cao, có tỷ suất hàng hóa lớn, vì không thể tiêu dùng nội bộ cho cá nhân và gia đình người chăn nuôi hết được.
Từ đặc điểm trên, vấn đề thị trường sản phẩm sữa có vị trí hết sức quan trọng, đặc biệt là sữa tươi có giá trị dinh dưỡng cao, nhưng lại rất dễ bị hư hỏng. Do đó, trong quá trình sản xuất và tiêu thụ phải gắn với việc chế biến, bảo quản. Quá trình này đòi hỏi phải có kỹ thuật và các điều kiện vật chất cần thiết, nếu bảo quản không đúng kỹ thuật, thì sản phẩm sẽ bị hư hỏng, mất giá trị sử dụng. Chính vì ngành chăn nuôi nói chung và bò sữa nói riêng, đồng thời một lúc cho nhiều sản phẩm và nhiều khi giá trị sản phẩm phụ cũng không thua kém gì so với sản phẩm chính, nên trong đầu tư chăn nuôi người ta phải căn cứ vào mục đích thu sản phẩm chính để lựa chọn phương hướng đầu tư, lựa chọn qui trình kỹ thuật sản xuất chăn nuôi cho phù hợp.
Vai trò của ngành chăn nuôi bò sữa đối với sự phát triển kinh tế- xã hội Xã hội ngày càng phát triển, đời sống người dân được cải thiện và nâng cao thì nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm nông nghiệp cả về chất lượng và chủng loại, đặc biệt là những nhu cầu về thịt, trứng, sữa, rau qủa tươi… Vì vậy, việc phát triển chăn nuôi bò sữa là cần thiết cho nhu cầu của toàn xã hội nói chung và Đồng Nai nói riêng, trên con đường phát triển nền nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nghị Quyết của Chính phủ số 357/CP, ngày 03/10/1979, khuyến khích các tổ chức và nhân dân phát triển mạnh trâu bò, với phương hướng cụ thể chăn nuôi bò chủ yếu là thịt và sữa: 10 - Chăn nuôi bò sữa ở nước ta có vai trò to lớn trong việc cung cấp các loại thực phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu xã hội. - Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các tỉnh, thành phố và phát triển ngành sữa cả nước, mặt khác chăn nuôi bò sữa là một giải pháp thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo ra khả năng phát triển công nghiệp chế biến. Từ đó tạo điều kiện để thu hút lao động dôi dư ở nông thôn, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động.
Đồng thời cho phép sử dụng tài nguyên đất đai, điều kiện tự nhiên và nguồn lực lao động một cách có hiệu quả nhất. - Chăn nuôi bò sữa đã góp phần đáng kể trong việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cư dân nông thôn ngoại thành; nhiều hộ đã xóa nghèo và vươn lên làm giàu; nhiều hộ đã tích lũy tăng quy mô chăn nuôi trở thành doanh nghiệp, trang trại nuôi bò sữa. - Từng bước thay thế nhập khẩu, chăn nuôi bò sữa cũng đã cung ứng nguồn nguyên liệu sữa tươi quan trọng cho các nhà máy chế biến sữa, đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước ngày càng tăng và tiết kiệm một lượng ngoại tệ nhập khẩu. Riêng sản lượng sữa sản xuất ra năm 2005 là 127.000 tấn, tương đương khoảng 17.000 tấn sữa bột, đã tiết kiệm hơn 34 triệu USD nhập nguyên liệu sữa từ nước ngoài.
Tiềm năng phát triển ngành chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam 1. Những thuận lợi Có thể khẳng định ngay là với điều kiện của Việt Nam, chúng ta vẫn có thể phát triển được ngành chăn nuôi bò sữa. Tuy nhiên, không thể phát triển ồ ạt theo kiểu phong trào mà phải có trọng tâm, trọng điểm. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ông Cao Đức Phát khẳng định, chương trình nuôi bò sữa sẽ vẫn tiếp tục: “Chúng ta vẫn nên tiếp tục tháo gỡ khó khăn để tiếp tục phát triển chăn nuôi bò sữa.
Mục tiêu về số lượng của bò sữa, trong QĐ 167 có nêu đạt 200. Tôi hiểu rằng chỉ tiêu số 11 lượng không quan trọng, quan trọng nhất với chúng ta là hiệu quả. Tiếp tục phát triển, nhưng với phương châm làm đâu chắc đó, phát triển bền vững, lấy năng suất, hiệu quả làm mục tiêu chính. Chứ không làm ồ ạt, chạy theo số lượng”.
Quyết tâm này của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn dựa trên những cơ sở: Thứ nhất, là vấn đề thị trường. Theo Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2000, ở Việt Nam, tiêu thụ sữa bình quân là 5,2 lít/người, năm 2005 tăng lên 7,9 lít/người. Tốc độ tăng trưởng nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm sữa bình quân tăng là 8,7%/năm. Dự báo nhu cầu tiêu thụ sữa sẽ vẫn tăng cao, vào năm 2010, tổng sản lượng sữa tiêu thụ của Việt Nam khoảng 01 triệu tấn, tăng 300 ngàn tấn (tăng 30%) so với hiện nay.
So với các nước xung quanh thì con số này vẫn còn rất khiêm tốn. Theo Bộ Tài chính, năm 2004, Việt Nam đã nhập gần 167 triệu USD sữa và sản phẩm từ sữa, năm 2005 là trên 220 triệu USD. Sản xuất sữa trong nước mới đáp ứng được gần 22% nhu cầu tiêu dùng nội địa. Như vậy, yếu tố quan trọng nhất là thị trường và triển vọng kinh tế thì đã rõ, đây là điều kiện cần.[phụ lục,bảng 1] Thứ hai, về tiềm năng, các yếu tố chủ quan có thể cho phép phát triển đàn bò sữa.
Theo Cục Chăn nuôi, thực tế cho thấy, tiềm năng về năng suất sữa ở nước ta không hề thua kém so với các nước trong khu vực. Thuận lợi của Việt Nam là có thể phát triển đàn bò sữa trên cơ sở đàn bò lai Sind trong nước, chiếm tới gần 85%. Đàn bò sữa lai tạo từ nền giống trong nước hoàn toàn có thể thích nghi với điều kiện khí hậu, môi trường Việt Nam. Như vậy, một ngành công nghiệp sữa mạnh, kể cả khi hàng rào thuế quan đối với sản phẩm này được hạ thấp xuống khi Việt Nam thực hiện các cam kết WTO, là hoàn toàn có thể.
[phụ lục ,bảng2] - Về vị trí địa lý Việt Nam nằm gần các nước có khả năng chăn nuôi phát triển con bò sữa , cụ thể như Thailand , Indonesia , Trung Quốc… [phụ lục,bảng 3] 12 - Chăn nuôi trâu bò có từ lâu đời và là ngành sản xuất truyền thống của sản xuất nông nghiệp, không gian rộng, địa hình đa dạng tạo nên nhiều tiểu vùng có khí hậu khác nhau, cho phép thích nghi với nhiều loại gia súc khác nhau. Diện tích đất nông, lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, thực vật sinh trưởng nhanh, vì thế tạo nguồn thức ăn dồi dào cho gia súc. - Nguồn lao động nông thôn dồi dào, có khả năng tiếp thu khoa học - kỹ thuật mới ứng dụng vào sản xuất. - Chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, năng lực sản xuất của ngành điện và cơ khí có thể trang bị cơ khí hóa với hệ thống cho ăn uống tự động, máy vắt sữa dần thay thế một số công việc thủ công nặng nhọc trong chăn nuôi.
Các nông hộ, trang trại chủ động đầu tư, tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật mới có thể đưa nghề chăn nuôi bò sữa thành ngành sản xuất hàng hóa. - Công nghệ sinh học có thành tựu bò lai giữa bò HF với bò cải tiến (bò lai Zebu) có tỷ lệ HF từ 50% - 75% là phù hợp.