Chương 1 trình bày khái quái các lý thuyết liên quan đến các vấn đề cần phân tích ở chương 2, cụ thê mô hình mô hình tài sản thương hiệu của Aaker (1991) và marketing thương hiệu (Kellen 1993). Ngoài ra, luận văn còn tham khảo sách, các bài báo khoa học có chí sô ISI hoặc scopus được tra cứu từ các nên lảng ResearchGate, Springer, Elsevier, Taylor and Francis và Sciencedirect bang cách tiếp cận phương pháp lược khảo theo hệ thông lý thuyêt (systematic review), trong đó cỏ kêt hợp với phân tích từ khóa (keywords), phân tích trích dần (citations) và phân tích nội dung (content analysis).1 Mô hình tài sân thương hiệu Tài sán thương hiệu đã rất được chú ý nghiên cứu trong thời gian gần đây và được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh khác nhau (Aaker, 1991), (Farquhar, 1989), (Rajendra K. Theo nghía chung, tài sản thương hiộu được định nghĩa theo các hiệu ứng marketing được quy cho một thương hiệu duy nhât - hay nói cách khác là các kẻt quá của hoạt động marketing hàng hoá/ dịch vụ mang thương hiệu này sè không thế đạt được nếu marketing cùng một hàng hoá/ dịch vụ không mang tên thương hiệu đỏ. Simon và Sullivan (Simon Carol J., Sullivan Mary w, 1993) định nghía giá trị thương hiệu dựa trên dòng tiền chiết khấu gia tăng trong tương lai sẽ là kết quá của một sán phẩm cỏ tên thương hiệu so với sổ tiền thu được nếu cùng một sản phâm không có tên thương hiệu đó.
Tài sán thương hiệu là khái niệm rất rộng và trừu tượng. Tài san thương hiệu là những giá trị mà thương hiệu mang đen cho khách hàng và những đổi tượng liên quan. So với các khái niệm vê các dạng tài sản khác thì tài sán thương hiệu là khái niệm ra đời sau, nhưng lại là loại lài sán có giá trị và ý nghía nhất đối với mồi doanh nghiệp (Vazquez R. Tài sàn thương hiệu của một công ty có the lớn gấp nhiều lần so với các giá trị tài sản khác (máy móc, sàn phẩm, phương tiện, cố phiếu,.
Giá trị tài sản thương hiệu sẽ thay đôi theo thời gian và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. 7 Có hai quan điểm chung đế nghiên cứu tài sản thương hiệu. Một là quan điêm dựa trên khía cạnh tài chỉnh để ước tính giá trị của một thương hiệu chính xác cho các mục đích kế toán (về định giá tài sán cho bàng cân đối kế toán) hoặc đe sáp nhập, mua lại hoặc các mục đích khác. Hai là, quan điểm dựa trên chiến lược để cài thiện năng suất marketing hướng đến phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn.2 Theo quan đìêm khách hàng của Aaker (1991) ‘Tài sàn thương hiệu là một tập hợp các tài sàn vồ hình gắn liền với tên và biếu tượng của một thương hiệu, nó góp phần làm tăng thêm hoặc giám đi giá trị của một sán phâm đối với công ty và khách hàng của công ty” (Aaker, 1991).
Mô hình Aaker (1991) đề xuất gồm năm thành phần cấu thành: Lòng trung thành thương hiệu; Sự nhận biết thương hiệu; Sự liên tường thương hiệu; Chất lượng cảm nhận thương hiệu; Các tài sản thương hiệu khác. Nguồn: Aaker, 1991 Hình 2.1: Mỏ hình tài sản thương hiệu theo Aaker (1991) 1.3 Theo quan điêm khách hàng của Keller (1993) 'Tài sàn thương hiệu là giá trị gia tăng thêm vào sán phâm. Giá trị này thê hiện qua cách khách hàng suy nghi, cảm nhận, hành động có tính chất tích cực đổi với thương hiệu và qua khả năng định giá cao, giành thị phân, và khả năng sinh lời mà thương hiệu có thế mang lại cho doanh nghiệp” (Keller, 1993). Tài sàn thương hiệu dựa trên khách hàng được định nghĩa là tác động khác biệt của kiến thức thương hiệu đổi với phàn ứng cùa người tiêu dùng về hoạt động marketing thương hiệu (Keller, 1993), nghĩa là, tài sán thương hiệu dựa trên khách hàng làm tăng phán ứng của người ticu dùng đối với một yếu to cua marketing hồn hợp cho thương hiệu so với phản ứng của họ đối với cùng một yếu tố cùa marketing hồn hợp được làm cho một hàng hoá dịch vụ có tên tương lự hoặc không có tôn thương hiệu.
Ba khái niộm 8 quan trọng được bao gồm trong định nghĩa “hiệu quá khác biệt’', “kiến thức về thương hiệu” và “phản ứng của người tiêu dùng đổi với hoạt động marketing”. - Hiệu quả khác biệt được xác định bằng cách so sánh phán ứng của người tiêu dùng đôi với hoạt động marketing cua một thương hiệu với phân ứng đôi với hoạt động marketing tương tự của một phiên bàn khác được đặt tên giá hoặc không có tên cua hàng hoá hoặc dịch vụ. - Kiến thức thương hiệu được định nghĩa theo nhận biết thương hiệu, hình ảnh thương hiệu và được khái niệm hoá theo các đặc điểm và mối quan hệ của các liên tưởng thương hiệu được mô tả trước đó. - Phàn ứng của người tiêu dùng đổi với hoạt động marketing được xác định dựa trên nhận thức, sở thích và hành vi cùa người tiêu dùng phát sinh từ hoạt động marketing hồn hợp.
Tài sán thương hiệu dựa trên khách hàng sẽ xuất hiện khi người tiêu dùng đà quen thuộc với thương hiệu và lưu giữ một sổ hình thức thương hiệu thuận lợi, mạnh mẽ và độc đáo trong trí nhớ. Khái niệm tài sán thương hiệu theo quan điếm khách hàng rất hừu ích vì nó gợi ý cả nhùng hướng dẫn cụ thế cho các chiến lược và chiến thuật marketing hừu ích trong việc hồ trợ ra quyết định của nhà quán tri. Keller (1993) đà lưu ỷ hai diêm quan trọng mà các nhà quàn trị cần quan tâm. Thứ nhất, các nhà marketing nên có một cái nhìn bao quát về hoạt động marketing cho một thương hiệu và nhận ra những tác động khác nhau của hoạt động này đối với kiến thức thương hiệu, cũng như những thay đôi trong kiến thức thương hiệu ánh hường đen các thước đo kết quả truyền thong hơn như bán hàng.
Thứ hai, các nhà marketing phái nhận ra sự thành công lâu dài của tất cá các chương trình marketing trong tương lai cho một thương hiệu bị ánh hưởng rất nhiều bời kiến thức về thương hiệu trong trí nhớ đà được thiết lập bởi nhừng nồ lực kinh doanh ngắn hạn của công ly. Theo định nghía tài sân thương hiệu từ khía cạnh khách hàng cùa Keller (1993), tài sán thương hiệu tích cực xảy ra khi khách hàng có nhừng phan ứng tích cực với hoạt động truyên thông, marketing cho thương hiệu minh hơn là các hoạt động tương tự cho hàng hoá hay dịch vụ cùng loại từ nhừng thương hiệu khác. 9 Nguồn: Keller, 1993 Hình 2.2: Mỏ hình kim tự tháp tài sân thương hiệu theo Keller (1993) Theo tác giả Hossien Emari và cộng sự (Emari, 2012) khi nghiên cứu vẻ sự ảnh hưởng của Lòng trung thành thương hiộu và Hình ánh thương hiộu đến Tài sán thương hiệu trong ngành sô-cô-la tại Iran, kêt quả nghiên cứu cho thây đê xây dựng và phát triên mô hình tài sán thương hiệu thì Lỏng trung thành có mức ảnh hương lớn nhất và kế đen là thành tô Hình ánh thương hiệu. Đê xây dựng lòng trung thành bên vừng của khách hàng, nhóm tác giã đề xuất nhà sán xuất và nhà bán lé cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng sán phẩm và cung cấp các dịch vụ tiện ích cho khách hàng.
Trong khi đó, nghiên cứu của tác già James B. Faithcloth và cộng sự (James B. Afford, 2001) lại cho rằng Liên tưÓTig thương hiệu sẽ tạo ra mức độ ảnh hướng lớn đến Tài sản thương hiệu, đến nồi tác già đề nghị các nhà quàn lý nên tập trung xây dựng các yêu tô câu thành Tài sàn thương hiệu, hơn là tập trung kiôm soát doanh số và lợi nhuận. Một nghiên cứu (Denise Linda Panis, Francisco Guzman, 2023) đánh giá tông thê về các bài báo được đăng ờ 24 tạp chí đầu ngành về marketing, tập trung vào nghiên cứu Tài sán thương hiệu trong khoán thời gian lừ năm 2000 - 2020 cho thấy ràng Lòng trung thành thương hiệu trong thời đại ngày nay là một khái niệm khá rộng, nỏ bao gồm sự tham gia của các bên có liên quan như cộng đồng xã hội, khách hàng, cố đỏng, nhà cung cấp, và nhân viên, cùng phát triền một thương hiệu bằng việc tái mua hàng, quảng bá, úng hộ, đồng sáng tạo, đồng sờ hữu thương hiệu.
Khi phân tích chi tiết, Lòng trung thành thương hiệu sẽ ảnh hưởng đến mức độ truyền miệng (word of mouth) cùa khách hàng, hành vi mua hảng cá trực tiếp và trực tuyển, thậm chí trung thành với trang web của các đơn vị kinh doanh. Tuy nhiên, hiện vần chưa có khuôn khô tông hợp đê đánh 10 giá tỉnh đa chiều cùa lòng trung thành với thương hiệu và điều này đặt ra thách thức cho nghiên cửu và thực hành trong tương lai.4 Khung nghiền cứu I. Nhận bict thương hiệu 2. Lien tường thương hiệu TÀI SÁN THƯƠNG 3.
Hình anh thương hiệu HIẼƯ 4. Chất lượng cam nhận 5. Trung thành thương hiệu 1.5 Các yêu tô thành phán của Tài sản thương hiệu vù thang đo - Nhận biết thương hiệu: Người mua thường sè lựa chọn thương hiệu mà họ đã biết bởi vì họ cảm thây được sự an toàn, thoái mái hơn. Người ta thường nghi răng một thương hiệu được nhiều người biết đen thì sè đáng tin hơn, chất lượng tốt hơn so với những thương hiệu ít người biêt đên.
Sự nhận biêt thương hiệu rât quan trọng đối với các sán phâm, khi mà họ hoạch định thương hiệu từ trước mồi khi mua hàng hóa. Trong những trường hợp này thỉ thương hiệu không được biêt đến sè mất ưu thế, và mất cơ hội được khách hàng lựa chọn. Các thông tin dùng để khâo sát mức độ nhận biết thương hiệu như sự dề dàng nhận biết thương hiệu, các diêm bán của thương hiệu có gần khu vực sinh sống cùa khách hàng, sự dề dàng phân biệt thương hiệu này với thương hiệu khác, khả năng nhớ và nhận biêt logo cua thương hiệu một cách nhanh chóng (Yoo và cộng sự. Nghiên cứu của Keller (1993) đà sử dụng thang đo đê đánh giá hình ảnh thương hiộu, đánh giá các đặc điếm mà khách hàng liên kết với thương hiệu.
Câu hói mầu: "Tôi dề dàng nhận ra thương hiệu này trong sổ nhiều thương hiệu khác." - Hình ảnh/Iiên tưởng thương hiệu: Niêm tin, cảm nhận và kiên thức của khách hàng có được về một thương hiệu nào đó từ truyền thông, quãng cáo của doanh nghiệp và chính trải nghiệm của khách hàng. Hình ảnh thương hiệu là một tập hợp các liên II tưởng thương hiệu (Aaker, 1991) là bất cứ điều gì trong bộ nhớ của khách hàng mà được gắn với thương hiệu.