CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1.1 CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1.1 Dịch vụ Khái niệm về dịch vụ Dịch vụ là lĩnh vực đang dần chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế chính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 vì vậy có sự quan tâm đặc biệt trong việc nghiên cứu từ đó xuất nhiều rất nhiều khái niệm về phạm trù này. Zeithaml và Mary J. Bitner (2000): “Dịch vụ là những hành vi quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. Dịch vụ là quá trình dịch vụ gắn liền với hiệu suất hoặc thành tích, dịch vụ chính là quá trình vận hành các hoạt động, hành vi.
Dịch vụ là “sản phẩm đặc biệt”. có nhiều đặc điểm khác so với sản phẩm như: tính vô hình (Intangible), tính không đồng nhất (Heterogeneity), tính không thể tách rời/chia cắt (inseparability), tính không tồn tại lâu dài (perishability) hay là không tồn kho (exclusion from the inventory). Dịch vụ là một trong ba ngành của nền kinh tế (công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ). Nó giữ vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế.
Ở các nước phát triển thì dịch vụ chiếm 70% GDP và lao động xã hội dịch vụ ngày càng chứng minh được vai trò của mình khi ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong GDP chính vì vậy nó trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành và từ đó xuất hiện rất nhiều khái niệm mang cả nghĩa rộng và hẹp khác nhau. “ Dịch vụ là mọi biện pháp lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là không sờ thấy được và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có hoặc có thể không liên quan đến hàng hóa dưới dạng vật chất của nó” (Philip Kotler. Marketing căn bản – Nguyên lý tiếp thị.
nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh) Dịch vụ thuần tuý có các đặc điểm khác biệt so với hàng hoá thuần tuý. Đó là các đặc trưng: tính vô hình, tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng DV, tính không đồng đều về chất lượng, tính không dự trữ được, tính không chuyển đổi sở hữu.2 Dịch vụ ngân hàng Khái niệm về dịch vụ ngân hàng Hiện nay, dịch vụ ngân hàng được hiểu là tất cả các hoạt động tiền tệ, thanh toán, tín dụng, thanh toán… của ngân hàng cung cấp cho khách hàng bao gồm cả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 doanh nghiệp và khách hàng cá nhân tức là mọi sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng gọi chung là dịch vụ ngân hàng. Ngoài ra còn một số quan điểm khác, dịch vụ ngân hàng là chỉ các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng không bao gồm hoạt động liên quan chức năng trung gian tài chính ở đây chỉ hoạt động tín dụng như vậy có thể hiểu quan điểm trên cho rằng dịch vụ là các hoạt động nghiệp vụ trừ nghiệp vụ tín dụng Tuy nhiên, tại Việt Nam, trong Luật TCTD năm 1997, cụm từ “dịch vụ ngân hàng” cũng đề cập tại khoản 1. khoản 7 điều 20 nhưng không có định nghĩa cụ thể.
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo qui định của Luật này và các quy định khác của Pháp luật để hoạt động ngân hàng”. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và hoạt động ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”. Ngoài ta một số loại dịch vụ ngân hàng khác như dịch vụ bảo hiểm (điều 74), dịch vụ ngân quỹ…cũng được quy định ở luật này. Một số quan điểm về dịch vụ ngân hàng Một vài quan điểm cho rằng dịch vụ ngân hàng là toàn thể hoạt động của ngành mang tính chất là một ngành dịch vụ.
Ngoài ra một số quan điểm khác cho rằng hoạt động ngân hàng là các sản phẩm dịch vụ không bao gồm tín dụng. Đa số nhiều người đồng thuận rằng dịch vụ ngân hàng là tất cả các tính năng, công dụng được ngân hàng mang đến nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng được sử dụng khá phổ biến hiện nay.3 Chất lượng dịch vụ Parasuraman & ctg (1988): “Chất lượng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ”. Thomsson & Ovretveit (1994): “Chất lượng dịch vụ là dịch vụ đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng và làm thoả mãn nhu cầu của họ”. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Từ định nghĩa trên ta có thể hiểu rằng sản phẩm có tốt như thế nào thì cũng phải được khách hàng chấp nhận mới được coi là có chất lượng còn ngược lại thì được xem là chất lượng kém.
Hầu hết các nghiêu cứu về chất lượng dịch vụ thì định nghĩa và phương pháp đánh giá được đề cập là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ. Khoảng cách này càng nhỏ thì khách hàng càng hài lòng về dịch vụ. Hiện nay tất cả các nhà cung cấp dịch vụ đều làm mọi cách có thể để giảm khoảng cách này. Các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh “sự khác biệt giữa chất lượng mang tính khách quan và cảm nhận chất lượng”.
Dodds và Monroe 1984. Holbrook và Corfman 1985. Jacoby và Olson1985. Năm 1988, các chuyên gia đã rút gọn 10 yếu tố xuống còn 5 yếu tố của chất lượng dịch vụ đó là: phương tiện hữu hình, độ tin cậy,sự đáp ứng, sự an toàn, sự cảm thông.
Sự khác biệt lớn trong đặc trưng của dịch vụ làm việc đánh giá chất lượng dịch vụ khó khăn hơn. Chính ở vấn đề này khi đánh giá chất lượng dịch vụ cần lưu ý đến một số đặc điểm sau: Thứ nhất, rất khó để đánh giá và nhận biết được chất lượng dịch vụ mà được cung cấp bởi tính chất đặc biệt của dịch vụ. Với dịch vụ khác với hàng hoá hữu hình có thể dễ dàng dùng nhiều tiêu thức hữu hình để đánh giá như: màu sắc hình dạng mùi vị….Ở dịch vụ tiêu thức hữu hình thường rất hạn chế. Do đó việc đánh giá chất lượng dịch vụ thường khó đo lường chính xác và mang tính chủ quan.
Thứ hai, chất lượng dịch vụ được đánh giá thông qua khoảng cách giữa sự cảm nhận về sản phẩm, dịch vụ và sự mong đợi kỳ vọng của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ đó. Từ những quan điểm trên ta định nghĩa quan niệm về chất lượng dịch vụ: “Chất lượng dịch vụ là sự hài lòng của khách hàng trong quá trình cảm nhận và tiêu dùng dịch vụ, là dịch vụ mà tổng thể của doanh nghiệp mang lại chuỗi lợi ích và thỏa mãn đầy đủ giá trị mong đợi của khách hàng trong hoạt động sản xuất cung ứng và phân phối dịch vụ đầu ra”. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 1.1 Khái niệm về khách hàng và sự hài lòng của khách hàng Khái niệm khách hàng: “ Khách hàng là tổ chức hay cá nhân nhận sản phẩm,dịch vụ”- Tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000:2000. khách hàng được cấu thành bởi hai nhóm khách hàng cá nhân và khách hàng tổ chức.
Trong đó: Khách hàng cá nhân: là các cá nhân, hộ gia đình. Về đặc trưng cơ bản nhu cầu của nhóm khách hàng này phụ thuộc vào các yếu tố: Đặc điểm gia đình, vai trò địa vị xã hội, tầng lớp xã hội. Việc nghiên cứu để xem xét các yếu tố nào tác động đến nhu cầu của bản thân đối tượng khách hàng có ý nghĩa giúp đề ra các giải pháp thu hút cũng như củng cố lòng trung thành của họ đối với doanh nghiệp. Khách hàng tổ chức: là công ty hay doanh nghiệp.
Cũng như khách hàng cá nhân. khách hàng tổ chức cũng chịu sự tác động của các yếu tố đến nhu cầu của mình như: qui mô doanh nghiệp. phạm vi thị trường hoạt động.… Khái niệm về sự hài lòng của khách hàng Có nhiều quan niệm khác nhau về sự hài lòng của khách hàng. (Oliver 1997) cho rằng: “Hài lòng khách hàng được xem như sự so sánh giữa mong đợi trước và sau khi mua một sản phẩm dịch vụ”.
Bachlet (1995) lại cho rằng: “Sự hài lòng của khách hàng như một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng đáp lại với kinh nghiệm của họ với một sản phẩm hay một dịch vụ”.2 Sự cần thiết phải nâng cao sự hài lòng của khách hàng Lĩnh vực Ngân Hàng trong quá trình hội nhập thì sự cạnh tranh đến từ trong nước và rất nhiều ngân hàng nước ngoài. Sự lựa chọn của khách hàng trở nên đa dạng hơn khi có rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ bên cạnh sự đa dạng về chất lượng, loại hình và cả về giá cả. Dựa trên tiêu chí phù hợp điều kiện, nhu cầu, tính cá nhân mà khách hàng chọn Ngân hàng nào có thể đáp ứng được những yêu cầu, thoả mãn mong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 muốn của khách hàng sẽ được lựa chọn. Do đó việc nâng cao sự hài lòng là vô cùng cần có thể nói việc làm giúp Ngân Hàng tồn tại.
Bên cạnh đó, nhu cầu của khách hàng là vô tận phải khai thác và nắm bắt được nhu cầu từ đó đưa ra các chiến lược, đề án kinh doanh nhằm thoả mãn khách hàng.3 Thang đo sự hài lòng của khách hàng Theo Kotler (dẫn từ Lin. 2003): “sự hài lòng hoặc thất vọng của một người bắt nguồn từ sự so sánh cảm nhận mong đợi về chất lượng một sản phẩm hoặc một dịch vụ nào nó”.Zeithaml, Berry (1985), Curry (1999), Luck và Laton ( 2000): “mức độ hài lòng có thể đo lường từ 5-7 khoảng cách. Có thể sử dụng thang điểm Linkert để cho đếm các khoảng cách. Berry (1991) có 5 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng: “1.
Phương tiện hữu hình ( Tangible): thể hiện bên ngoài của cơ sở vật chất. công cụ truyền thông. Độ tin cậy (Reliability): thể hiện khả năng đáng tin cậy và chính xác khi thực hiện dịch vụ. Mức độ đáp ứng( Responsiveness): thể hiện cung cấp dịch vụ kịp thời và sẵn lòng giúp đỡ khách hàng 4.
Sự đảm bảo (Assurance): Thể hiện trình độ chuyên môn và sự lịch lãm của nhân viên. tạo niềm tin tưởng cho khách hàng. Sự cảm thông ( Empathy): thể hiện sự ân cần. quan tâm đến tùng cá nhân khách hàng.
Các thang đo sử dụng để đo lường trong đề tài này đã được kiểm định trong nhiều nghiên cứu ở các đơn vị khác nhau.