Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị quan hé khach hang (CRM), e Chương 2: Thực trạng công tác quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hang TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam — Chi nhánh Đà Nẵng.(BIDV Đà Nẵng) e Chương 3: Hoàn thiện công tác quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam — Chi nhánh Đà Nẵng. 4 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG TRONG NGAN HANG (CRM) 1. Khach hang va phan loai khach hang 1. Khái niệm về khách hàng Khách hàng của một tổ chức là một tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp.
có nhu cầu cần sử dụng sản phẩm của công ty và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó của mình. Đối với một ngân hàng, khách hàng tham gia vào cả quá trình cung cấp đầu vào như gửi tiết kiệm, mua kỳ phiếu. đồng thời cũng là bên tiêu thụ đầu ra khi vay vốn từ ngân hàng. Mối quan hệ của ngân hàng với khách hàng là mối quan hệ hai chiều, tạo điều kiện cho nhau cùng tồn tại và phát triển.
Sự thành công hay thất bại của khách hàng là nhân tô quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, ngược lại sự đổi mới của ngân hàng về chất lượng sản phẩm dịch vụ lại tạo điều kiện cho sự thành công trong kinh doanh của khách hàng. Phân loại khách hàng trong ngân hàng *Theo đối tượng khách hàng - Khách hàng doanh nghiệp là những tô chức kinh tế Việt Nam (doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp; công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty cỗ phần; công ty hợp doanh và doanh nghiệp tư nhân; hợp tác xã hoạt dộng theo luật hợp tác xã; văn phòng đại diện,chi nhánh của tổ chức kinh tế Việt Nam) ; tô chức kinh tế nước ngoài,văn phòng đại diện,chỉ nhánh của tổ chức kinh tế nước ngoài; các tô chức khác ( các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp; tô chức đoàn thê; trường học,bệnh viện.) đã và đang suwrdungj sản phâm/dịch vụ của ngân hàng. Trong đó khách hàng doanh nghiệp phổ biến nhất của ngân hàng là những doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp, 5 chủ yếu là công ty cô phan, công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân. -Khách hàng cá nhân: là những cá nhân,hộ cá thể đã và đang sử dụng san pham/dich vu ngân hàng.
* Theo phạm vỉ hoạt động - Khách hàng bên ngoài: là những cá nhân hay tổ chức đã và đang sử dụng sản phâm/dịch vụ ngân hàng. - Khách hàng bên trong ( khách hàng nội bộ): là tất cả nhân viên đag làm việc tại ngân hàng và các đơn vị trực thuộc. * Theo sản phẩm dịch vụ - Khách hàng thuộc nghiệp vụ huy động vốn Khách hàng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, dịch vụ. Các doanh nghiệp khi gửi tiền vào ngân hàng mục đích là để giao dịch thanh toán cho các nghiệp vụ kinh doanh của họ, bởi vậy, nguồn vốn này của ngân hàng không phải trả lãi hoặc trả lãi rất thấp.
Do vậy, rất có lợi cho ngân hàng khi dùng nguôn von nay dé cho vay. Mặt khác, ngân hàng còn tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi trong khâu thanh toán do dịch vụ ngân hàng tạo nên. Khách hàng là các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, các tô chức đoàn thẻ. Trong quá trình hoạt động, một số đơn vị có những hoạt động kinh doanh phụ nằm trong khuôn khổ pháp luật được nhà nước cho phép hoặc có những khoản tiền không thuộc nguồn gốc từ ngân sách nhà nước như quà tặng, tiền cho thuê mặt bằng.
Các khoản tiền này sẽ được gửi tại ngân hàng dưới hình thức tài khoản chuyên dùng. Mục đích tiền gửi vào ngân hàng là để lay lãi, ngân hàng cần khai thác tốt nguồn vốn này và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan đơn vị gửi tiền. Khách hàng là các tầng lớp dân cư. Khi nền kinh tế tăng trưởng và phát 6 triển thì các tầng lớp dân cư sẽ có các nguồn thu nhập dưới hình thức tiền tệ gia tăng.
Số thu nhập này phân tán trong dân cư và là một nguồn vốn để ngân hàng huy động. - Khách hàng thuộc nghiệp vụ cho vay Khách hàng vay vốn của ngân hàng có thể là những khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích và hoàn trả vốn và lãi đúng theo cam kết Nhưng cũng có những khách hàng có thể không hoàn trả món vay. Việc này đòi hỏi ngân hàng cần có phương pháp lựa chọn khách hàng khi vay vốn dựa vào các chỉ tiêu tài chính như: khả năng thanh toán, chỉ tiêu hoạt động, khả năng tự tài trợ, khả năng sinh lời, chấp hành chế độ lập và gửi báo cáo tài chính; và dựa vào các chỉ tiêu phi tài chính như: uy tín trong quan hệ tín dụng, mức độ đảm bảo bằng tài sản, mức độ quan hệ với ngân hàng. Đối với từng chỉ tiêu có một thang điểm nhất định, tổng điểm là 100 điểm, từ đó phân khách hàng ra thành các nhóm.
Ngân hàng xác định nhóm khách hàng mục tiêu và sau đó lập chiến lược quản trị quan hệ với các nhóm khách hàng Nhìn chung, ngân hàng có nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, phân loại và quản lý tốt mối quan hệ với khách hàng mục tiêu không phải đơn giản. Vì vậy cần có sự tham gia của toàn tổ chức, trực tiếp chỉ đạo từ ban lãnh đạo. - Khách hàng thuộc nghiệp vụ có liên quan đến các dịch vụ tài chính tiền tệ, tài sản của ngân hàng Thị trường tiêu dùng cá nhân: Đây là những người đóng vai trò chủ chốt, nắm vai trò quyết định trong gia đình và vì vậy họ có vai trò quan trong trong việc mua dịch vụ của ngân hàng. Nguồn khách hàng này thường nhiều và phân tán về mặt địa lý, họ thường mua với số lượng ít nên không có mỗi quan hệ qua lại, ràng buộc với các ngân hàng.
Họ mua dịch vụ của ngân hàng là để phục vụ cho đời sống và sinh hoạt của chính họ. Vì vậy, việc mua này 7 chịu nhiều nhân tố ảnh hưởng: tâm lý, văn hóa, xã hội và các nhân tố thuộc về bản thân họ. Thị trường t6 chức: Trái với thị trường tiêu dùng cá nhân, ở thị trường này tuy có số lượng người mua ít hơn nhưng họ mua với quy mô lớn, số lượng mua nhiều. Chính vì vậy, mối quan hệ giữa thị trường mua tổ chức và ngân hàng thường gần gũi hơn, có mối quan hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau.
Họ là những khách hàng có trình độ, việc mua chủ yếu của họ là để thực hiện công việc kinh doanh hoặc thực hiện một chức năng nào đó. Vì vậy, họ quan tâm nhiều đến vấn đề lợi nhuận, giảm chỉ phí, đàm phán kỹ về giá cả và hay đòi hỏi giảm giá trong những trường hợp nhất định hoặc khả năng thỏa mãn những nhu cầu cho công việc chẳng hạn như yêu cầu về kế hoạch cung cấp, số lượng, chất lượng, địa điểm. ngân hàng nên căn cứ vào những mong đợi này của khách hàng đề thõa mãn tối đa nhu cầu của họ. * Theo lịch sử quan hệ - Khách hàng cũ : là những khách hàng đã từng sử dụng san pham/dich vụ của ngân hàng, nay không còn sử dụng trong một thời gian nhất định.
- Khách hàng hiện hữu: là những khách hàng đang sử dụng sản phâm/dịch vụ của ngân hàng. - Khách hàng tiềm năng: là những cá nhân hoặc tô chức có khả năng trở thành hoặc không trở thành khách hàng hiện hữu của ngân hàng trong tương lai 1. Vai trò của khách hàng đối với ngân hàng Khách hàng có vai trò vô cùng quan trọng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Với đặc trưng của kinh doanh tài chính tiền tệ, khách hàng là nhân tố quyết định sự tồn tại của ngân hàng.
Khách hàng là nguồn mang lại doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt và có nhiều biến động chung của nền 8 kinh tế, vai trò của khách hàng đối với ngân hàng càng trở thành mối quan tâm hàng đầu.Ngân hàng nào dành được mồi quan tâm, sự tin tưởng, sự trung thành của khách hàng, ngân hàng đó sẽ tồn tại và phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn. Việc thấu hiểu quan hệ khách hàng là yếu tố quan trọng trong sự thành công của ngân hàng. Do đó,các ngân hàng đều nhận ra tầm quan trọng của chiến lược định hướng khách hàng, tức chiến lược dựa trên sự hiểu biết khách hàng.
Quản trị quan hệ khách hàng trong ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về quản trị khách hàng Quản trị quan hệ khách hàng (CRM - Customer Relationship Management) là chiến lược của các công ty trong việc phát triển quan hệ gắn bó với khách hàng qua nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lưỡng nhu cầu và thói quen của họ. CRM ra đời vào giữa thập niên 90 của thế kỷ 20, đã cung cấp cho các nhà làm Marketing khả năng thu thập và tích lãy dữ liệu về hành vi mua của khách hàng trên một cơ sở dữ liệu cá nhân. Nhìn chung, khái niệm về CRM được xác định theo nhiều quan niệm của nhiều tác giả khác nhau: CRM là một tiến trình tổng quát của việc xây dựng và duy trì các mối quan hệ khách hàng có lãi bằng việc cung cấp những giá trị và sự thõa mãn cao hơn cho khách hàng.
Do vậy, các doanh nghiệp ngày nay đi xa hơn trong việc thiết kế chiến lược nhằm thu hút những khách hàng mới và tạo ra những giao dịch với họ. Các doanh nghiệp sử dụng CRM đề duy trì khách hàng hiện tai và xây dựng mối quan hệ có lợi và dài hạn với họ. Theo Bergeron: CRM là quá trình quản trị năng động mối quan hệ giữa khách hàng với doanh nghiệp để khách hàng quyết định tiếp tục trao đổi thương mại có lợi cho cả đôi bên và ngăn cản họ tham gia vào những cuộc trao đổi không sinh lợi cho doanh nghiệp. [6] Theo Don Peppers và Martha Rogers: CRM là quá trình ra các quyết 9 định quản trị với mục tiêu sau cùng là gia tăng giá trị của cơ sở khách hàng thông qua các mối quan hệ tốt hơn với các khách hàng dựa trên cơ sở cá biệt theo khách hàng.
Reinartz: CRM là việc khai thác và phân tích các cơ sở dữ liệu marketing và sử dụng các công nghệ thông tin nhằm đánh giá tình hình của doanh nghiệp và xác định các phương pháp cho phép cực đại gia tri lau dai (lifetime value) của từng khách hàng đối với doanh nghiệp.