CHƯƠNG 1: CO SO LY LUAN VE CONG TAC QUAN LY THUE DOI VOI DOANH NGHIEP CO GIAO DICH LIEN KET. Doanh nghiệp liên kết va giao dịch liên kết 1. Khái niệm ~ Theo thông lệ quốc tế, hai doanh nghiệp được coi là các bên liên kết khi: + Một doanh nghiệp tham gia vào quản lý, điều hành hay góp vốn vào doanh nghiệp kia. một cách trực tiếp hoặc gián ti + Hai doanh nghiệp có cùng một hoặc nhiều người hoặc những thực thể khác tham gia quản lý, điều hành hay góp vốn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
~ Giao dịch liên kết là giao dịch phát sinh giữa các bên có quan hệ liên kết trong. quá trình sản xuất, kinh doanh, bao gồm: các giao dịch mua, bán, trao đổi, thuê, cho. thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng hàng hóa, cung cấp dịch vụ; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; mua, bán, ôi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng tài sản hữu hình, tài sản vô hình và thỏa thuận mua, bán, sử dụng chung nguồn lực như tài sản, vốn, lao ig, chia sẻ chỉ phí giữa các bên có quan hệ liên kết, trừ các giao dịch kinh doanh đối với hàng hoá, địch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh giá của Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về giá. *Doanh nghiệp liên kết”, trong mối quan hệ với một doanh nghiệp khác, có nghĩa là một doanh nghiệp— (a) tham gia, trực tiếp hoặc gián tiếp, hoặc thông qua một hoặc nhiều trung gian, vào việc quản lý hoặc kiểm soát hoặc vốn của doanh nghiệp kia; hoặc (b) đối với một hoặc nhiều người tham gia, trực hoặc gián tiếp, hoặc thông qua một.
hoặc nhiều trung gian, vào việc quan lý hoặc kiêm soát hoặc vốn của nó, là những người cùng tham gia, trực tiếp hoặc gián tiếp, hoặc thông qua một hoặc nhiều trung gian, trong việc quản lý hoặc kiểm soát hoặc vốn của doanh nghiệp khác. Sự phát triển của các nhóm kinh doanh trong các thị trường mới nỗi Với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng với các chính sách của chính phủ thiên về tự do hóa kinh tế và áp dụng hệ thống thị trường tự do, các nền kinh tế mới nỗi đang có vị trí ngày cảng nỗi bật trên thế giới (Wright và công sự, 2005). Một hình thức tổ chức kinh doanh quan trọng ở nhiều nền kinh tế mới nổi và các nước Châu Á là nhóm. Về định nghĩa, Khanna và Rivkin (2001) đề xuất rằng nhóm kinh doanh là một tập hợp các công ty, mặc dủ độc lập về mặt pháp lý.
được ràng buộc với nhau bằng một loạt các môi quan hệ chính thức và không chính thức và quen với việc phối hợp hành động. Một cuộc điều tra nghiên cứu chính trong tài liệu về doanh nghiệp liên kết là môi quan hệ giữa liên kết nhóm và hiệu quả hoạt động của công ty. Quan điểm dựa trên kinh tế học có sức mạnh giải thích vượt trội: bởi vì ở các nền kinh tế mới nôi, các thể chế thường kém phát triển và dẫn đến tăng chỉ phí kinh doanh (North, 1990), các doanh nghiệp liên kết có thể đóng vai trò thay thế dé lấp đầy khoảng trống thể chế như thiếu các trung gian trong thị trường sản phẩm, lao động và vốn (Khanna & Palepu, 1997). Các doanh nghiệp liên kết rất quan trọng ở các nền kinh tế mới nỗi và sự phô biến của các doanh nghiệp liên kết cho thấy rằng chúng có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của các thành viên liên kết với nhóm ở các nền kinh tế này, tạo ra lợi ích hoặc áp đặt chỉ phí cho các thành viên.
Vi dụ, Chang và Choi (1988) chứng minh rằng các công ty dưới sự bảo trợ của tài phiệt Hàn Quốc hoạt động tốt hơn các công ty độc lập, và Khanna và Palepu (2000a, 2000) cung cắp bằng chứng rằng tư cách thành viên doanh nghiệp liên kết có liên quan đến lợi nhuận vượt trội của các công ty thành viên ở An Dé va Chile. Bang cach thu thập dữ liệu từ 14 nền kinh tế mới nổi, Khanna va Rivkin (2001) nhân thấy rằng lợi nhuận của các công ty liên kết trong doanh nghiệp liên kết cao hơn so với các công ty không liên kết có thể so sánh ở sáu quốc gia, mặc dù lợi nhuận của các công ty liên kết trong nhóm thấp hơn ở ba và không có sự khác biệt đáng kể trong các năm.3 Các quy định của pháp luật liên quan giao dịch liên kết Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan qua các thời ky * Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 1997: Ngay từ cuối những năm 1990, vấn đề chống gian lận thuế qua định giá chuyển nhượng đã được đề cập trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong thời kỳ áp dụng Luật đầu tư nước ngoài, các thông tư hướng dẫn vẻ thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã quy định 3 phương pháp xác định giá thị trường nhằm tạo cơ sở để cơ quan thuế tiền hành thanh tra, kiểm tra chống chuyên giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. 6- Nguyên tắc cốt lõi điều chỉnh vấn đẻ chuyên giá đã được Việt Nam đảm.
phán và ký kết tại hệ thống các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc tron lâu thuế đối với thuế thu nhập (Hiệp định thuế) với các nước từ những năm 1990. Mặc dù nội luật chưa có quy định cụ thể về chuyển giá nhưng tại các Hiệp định thuế, đã có điều khoản riêng điều chỉnh về vấn đề chuyển giá trong giao dịch của các doanh nghiệp liên kết nhằm bảo lưu quyền đánh thuế theo nguyên tắc giao dịch độc lập trong phân chia quyền đánh thuế khi các doanh nghiệp đa quốc gia có phát sinh thu nhập tại Việt Nam, Điều khoản quản lý chuyển giá trong các Hiệp định thuế thường được quy định. như sau: “Khi: a. Một doanh nghiệp của một Nước ký kết tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào.
việc điều hành, kiêm soát hoặc góp vốn vào một doanh nghiệp của Nước ký kết kia, hoặc. Các đối tượng cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát hoặc góp vốn vào một doanh nghiệp của một Nước ký kết và vào một doanh nghiệp của Nước ký kết kia, Và trong cả hai trường hợp, trong mồi quan hệ tài chính và thương mại giữa hai doanh nghiệp trên có những điều kiện được đưa ra hoặc áp đặt khác với điều kiện được đưa ra giữa các doanh nghiệp độc lập, khi đó mọi khoản lợi tức mà một doanh nghiệp có thể thu được nếu không có những điêu kiện trên nhưng nay vì những điều kiện này mà doanh nghiệp đó không thu được, sẽ vẫn được tính vào các khoản lợi tức của doanh nghiệp đó và bị đánh thuế tương túng. * Giai đoạn từ năm 1997 đắn năm 2006: Từ năm 1997, trong hệ thống chính sách pháp luật quản lý về thuế của Việt Nam. đã hình thành khung pháp lý đầu tiên cho việc xử lý về thuế đối với các trường hợp chuyên giá và được quy định tại các văn bản: Thông tư số 74/1997/TT-BTC ngày 20/10/1997 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế đối với nhà đầu tư nước ngoài,.
Sau ‘Thong tư số 74/1997/TT-BTC, Bộ Tài chính tiếp tục nghiên cứu và ban hành các Thông tư hướng dẫn thực hiện quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nThông tư số 89/1999/TT-BTC ngày 16/7/1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế đối với nhà đầu tư nướng ngoài.và Thông tư số 13/2001/TT- BTC ngày 08/03/2001 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện quy định về thuế với các +1- hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trong đó có quy định việc xử lý về thuế đối với các trường hợp chuyển giá. Tuy nhiên, trong suốt giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2005 này, mặc dù đã có. khung pháp lý điều chinh đối với các hành vi chuyển giá nhưng thực trạng chuyển giá vẫn tiếp tục tồn tại, ngày cảng phức tạp và gia tăng. Các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên đã bộc lộ những mặt tồn tại, hạn chế, khó khăn trong việc giải quyết đối với các trường hợp chuyền giá tránh thuế như: việc quy định các bên có mối quan hệ liên kết còn chưa cụ thê, rõ ràng nên việc hiểu và xác định mối quan hệ liên kết của các cơ quan chức năng có thâm quyền và người nộp thuế không thống nhất, không quy định các tô chức, cá nhân có giao dịch kinh doanh với bên liên kết có nghĩa vụ kê khai và điều chỉnh.
đối với các giao dịch mua, bán sản phẩm không theo giá thị trường; Cơ quan thuế có trách nhiệm xác định giá thị trường theo quy định đối với sản phẩm được chuyển giao. giữa người nộp thuế với bên liên kết trong quá trình ấn định thuế đối với người nộp thuế có giao dịch chuyển giao sản phẩm với bên liên kết không theo giá thị trường, do vậy không khuyến khích tinh tự giác tuân thủ và minh bạch trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế; chỉ quy định 3 phương pháp xác định giá thị trường (Phương. pháp so sánh giá thị trường, Phương pháp sử dụng giá bán ra để xác định giá mua vào, Phương pháp sử dụng giá thành toàn bộ để xác định thu nhập chịu thuế) nhưng chưa có hướng dẫn chỉ tiết về cách lựa chọn giao dịch độc lập tương đồng để so sánh với giao dịch liên kết và chưa có hướng dẫn chỉ tiết cách xác định giá trị phù hợp làm căn cứ điều chỉnh giá đối với sản phẩm trong giao dịch liên kết khi thực hiện tính toán và ấn định thuế. Từ khi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) được sửa đổi năm 2004 theo hướng thống nhất nghĩa vụ thuế giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đã lần đầu tiên đưa nguyên tắc “giá thị trường” vào làm cơ sở để xác định nghĩa vụ thuế công bằng.
giữa các doanh nghiệp, chính thức hoá việc kiêm soát vấn đề chuyển giá trong giao dịch. nhằm gây lỗ giả, lãi thật dé trốn, tránh thuế. Điều 1 1 Luật số 09/2003/QH11 đã quy định.