PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngân sách Nhà nước là một công cụ kinh tế quan trọng của một nhà nước và là một công cụ quan trọng để quản lý kinh tế vĩ mô. Ngân sách huyện là một phần của ngân sách nhà nước và là công cụ giúp UBND cấp huyện thực thi những chức trách, nhiệm vụ và thẩm quyền trong việc quản lí kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng. Quản lý tốt Ngân sách Nhà nước sẽ nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, cũng cố kỉ luật ngân sách để gia tăng thu nhập góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao mức sống người dân và bảo đảm trật tự quốc phòng an ninh đối ngoại.
Quốc hội đã ban hành Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015. Luật ngân sách đã xác định rõ ràng và cụ thể hơn nhiệm vụ, thẩm quyền của từng cấp quản lí ngân sách nhà nước cụ thể đối với công tác xây dựng và thực hiện cơ chế quản lý, giám sát và thống kê báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước. Trong những năm qua, tình hình tăng trưởng kinh tế của huyện Tịnh Biên tương đối ổn định, hoàn thành tốt các nhiệm vụ trọng tâm của năm ngân sách. Thu ngân sách hàng năm đều đạt và vượt dự toán, đảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ cho các nhiệm vụ kinh tế xã hội, anh ninh - quốc phòng trên địa bàn huyện.
Tuy nhiên thực trạng quản lý ngân sách nhà nuớc trên địa bàn huyện còn nhiều hạn chế. Cụ thể như: quản lý thu, chi ngân sách vẫn còn thất thoát; chi cho đầu tư xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng còn quá thấp so với tổng chi ngân sách, tiến độ giải ngân còn chậm,. Một số khoản chi thường xuyên còn chưa tương ứng với nhiệm vụ chi như chi cho sự nghiệp giáo dục, chi mua sắm, sửa chữa. Việc xây dựng dự toán chưa bám sát vào tình hình thực tế và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương dẫn đến khó khăn trong việc điều hành ngân sách.
Vì vậy tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý Ngân sách Nhà nước tại huyện Tịnh Biên tỉnh An Giang” để nghiên cứu luận văn tốt nghiệp. Các công trình nghiên cứu có liên quan 2. Công trình nghiên cứu ngoài nước Công trình nghiên cứu của các tác giả Allen Schick, Felix LoStracco (2000)“ The Federal Budget: Politics, Policy, Process – NS Liên Bang” : chính trị, chính sách và quy trình thương lượng đã phát hiện ra được việc phân bổ NS ảnh hưởng đối với nhiều mặt khác nhau của nền KT-XH và với nhiều nhóm lợi ích đối lập nhau. Theo các ông thì phân bổ NS chính là quy trình thương lượng giữa những nhóm lợi ích nhằm thực hiện chính sách do các nhóm hướng tới.
Trong vài tình huống thì tính hiệu quả tài chính và tính minh bạch trong huy động và phân bổ vốn, cũng như lợi ích giữa các nhóm có tính chất mâu thuẫn với nhau. Công trình nghiên cứu trên cũng cho rằng, quy trình quản lý NS phản ánh khá rõ ràng tính chất chính trị và khả năng lựa chọn mục đích sử dụng NSNN. Công trình nghiên cứu của Robert Keith và Allen Schick (2003) “The Federal Budget Process”– Quy trình NS Liên bang, cũng đề cập đến vấn đề lập dự toán chi NS quốc gia khi phân tích các hoạt động chuẩn bị xây dựng kế hoạch NS Liên Bang. Nghiên cứu cho thấy rằng, ở khâu xây dựng kế hoạch NS, ngoài Văn phòng quản trị Nhà Trắng còn có Hội đồng Cố vấn Kinh tế cho Tổng thống và Bộ Tài chính tư vấn cho các quyết định về kế hoạch NS.
Hoạt động chuẩn bị xây dựng kế hoạch NS được các bộ và các uỷ ban trung ương của Hoa Kỳ làm từ tháng 3 hằng năm. Họ tiến hành rà soát từng khoản chi cũ theo từng chương trình, kết toán, báo cáo, sau đó xác định mức chi năm tới cho mỗi chính sách trước đây, đồng thời xác định mức chi cho những chính sách mới phát sinh hoặc các chính sách ngoài dự kiến. Đến tháng 5 hoặc tháng 6, kế hoạch phác thảo được chuyển lên xin ý kiến Văn phòng quản trị Nhà Trắng. Văn phòng quản trị Nhà Trắng và Tổng thống tổng hợp sơ bộ để đưa ra định mức chi, xác định mục tiêu, những chương trình hay chính sách trọng điểm.
Đến cuối tháng 6, những tiêu chuẩn này và trần NS, nguyên tắc thu chi trong năm tài khoá được chuyển trở lại cho các bộ và uỷ ban. Các đơn vị đánh giá lại kế hoạch chi, rà soát lại theo các chỉ đạo của Văn phòng quản trị Nhà Trắng và Tổng thống, điều chỉnh lại và nộp trở lại cho Văn phòng quản trị Nhà Trắng. Từ 2 thời điểm này đến cuối tháng 11, Văn phòng quản trị Nhà Trắng mời từng đơn vị lên báo cáo, giải thích và bảo vệ kế hoạch NS. Ở khâu này, trần chi tiêu và các khoản mục chi tiêu được xem xét kỹ để đi đến thống nhất về mục tiêu và mức chi.
Luật pháp Hoa Kỳ cho phép các đơn vị bất đồng ý kiến với Văn phòng quản trị Nhà Trắng có thể báo cáo trực tiếp lên Tổng Thống để giải quyết. Tháng 12 đến tháng 1 Văn phòng quản trị Nhà Trắng hoàn tất tổng hợp để đưa ra kế hoạch và chính sách chi NS cho năm tài khoá. Công trình nghiên cứu trong nước Hồ Ngọc Tú (2019) đã nêu thực trạng ngân sách nhà nước giai đoạn 2008 – 2018, cụ thể tác giả đánh giá tình hình thu, chi ngân sách nhà nước, bội chi ngân sách nhà nước và tình hình nợ công ở nước ta. Kết quả nghiên cứu cho thấy tình hình bội chi ngân sách nhà nước diễn ra liên tục trong nhiều năm, kỷ luật chi ngân sách nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế và tác giả cũng phân tích nguyên nhân dẫn đến bội chi ngân sách nhà nước và xu hướng chi ngân sách trung ương giảm dần vai trò và chi tiêu ngân sách địa phương ngày một gia tăng.
Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị góp phần quản lý ngân sách nhà nước cho Việt Nam. Tô Thiện Hiền (2012) đã phân tích thực trạng các hình thức thu chi ngân sách tỉnh trong giai đoạn 2006-2010 , bằng những biện pháp thông kê, đối chiếu, tập hợp và xử lý dữ liệu tác giả đã thấy được các ưu điểm cũng những yếu kém của việc quản lý ngân sách của tỉnh An Giang. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra các biện pháp cụ thể để cải thiện quản lý ngân sách của tỉnh góp phần ổn định sự tăng trưởng kinh tế xã hội ở tỉnh An Giang. Bùi Thị Quỳnh Thơ (2013) đã hệ thống hóa một số vấn đề sau: Trên phương diện lý luận, luận án đã hệ thống và phát triển được các vấn đề lý luận cơ bản về chi ngân sách nhà nước.
Điểm nổi bật, đáng chú ý của luận án là đã tổng hợp và phát triển lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước, vấn đề này được trình bày và phân tích đầy đủ trên các khía cạnh: Khái niệm, đặc trưng, nguyên tắc và những yếu tố tác động đối với quản lý chi NSNN và phương thức quản lý chi NSNN và cơ chế 3 quản lý chi NSNN và nguyên tắc quản lý chi NSNN. Luận án cũng đã phân tích thực trạng quản lý chi NSNN của một số nước và Việt Nam qua đó đưa ra bài học đối với công tác quản lý chi ngân sách nhà nước của tỉnh Hà Tĩnh. Phân tích hiện trạng chi ngân sách nhà nước và giải pháp hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý chi ngân sách nhà nước tỉnh Hà Tĩnh thời kỳ 2004 - 2012. Luận án đã nêu bật những vấn đề quan trọng trong quản lý chi ngân sách nhà nước tỉnh Hà Tĩnh về những vấn đề chi ngân sách cũng như chi đầu tư xây dựng cơ bản và vấn đề quản lý chi ngân sách nhà nước thông qua kho bạc nhà nước, đưa ra các thành tựu đạt được cùng một số hạn chế trong vấn đề áp dụng quy trình quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa tỉnh Hà Tĩnh và nguyên nhân của các tồn tại nói trên nhằm lấy làm cơ sở đề ra các giải pháp khắc phục.
Trên cơ sở tổng kết khoa học cùng đánh giá hiện trạng, luận án đã kiến nghị những nhóm giải pháp nhằm cải thiện quản lý chi ngân sách nhà nước tỉnh Hà Tĩnh. Các giải pháp đi sâu vào phân tích các vấn đề trọng yếu trong quản lý chi ngân sách nhà nước tại tỉnh Hà Tĩnh và khắc phục các tồn tại – hạn chế của yếu kém công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tỉnh Hà Tĩnh thời kỳ vừa qua. Nguyễn Hồng Hà (2013), trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng và dựa vào đặc điểm, tính chất và lĩnh vực hoạt động của các đơn vị dự toán ở Việt Nam, luận án đã đề xuất một số giải pháp mới có tính thuyết phục và tính khả thi cao nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị dự toán trong tiến trình cải cách tài chính công ở Việt Nam: - Đổi mới quy trình dự toán và phân bổ ngân sách cho các đơn vị dự toán trên cơ sở khuôn khổ chi tiêu trung hạn, gắn với kết quả đầu ra; - Tái cơ cấu nguồn ngân sách nhà nước cấp và đổi mới cơ chế điều hành tài chính đối với các đơn vị dự toán khu vực hành chính, sự nghiệp công; - Thay đổi căn bản phương thức cấp phát ngân sách thường xuyên cho khu vực sự nghiệp công theo hướng đặt hàng sản phẩm đầu ra hoặc đấu thầu gói hỗ trợ kinh phí thường xuyên cuốn chiếu; - Thay đổi phương thức cấp phát ngân sách thường xuyên cho khu vực hành 4 chính theo chuẩn ISO hóa, xây dựng nền hành chính quốc gia tận tụy, công tâm, hiệu lực và hiệu quả; - Hoàn thiện cơ chế, chính sách giá phí dịch vụ công; - Một số giải pháp khác, như: Củng cố vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực hành chính, sự nghiệp công; đảm bảo quyền lợi của các tầng lớp khó khăn, duy trì lợi ích chung của huyện khi giao quyền tự chủ thực sự cho các đơn vị dự toán. Đồng bộ hóa cơ chế tài chính trong tổng thể đổi mới hoàn thiện cơ chế quản lý;.
Huỳnh Xuân Hiệp (2015) đã phân tích thực trạng hiệu quả quản lý NSNN tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn 2010 – 2014 [07]. Đánh giá hiệu quả và những hạn chế quản lý NSNN tỉnh Sóc Trăng.