Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH DÂN DỤNG 1. Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng 1. Các khái niệm, đặc điểm dự án đầu tư 1. Khái niệm *Dự án Theo Từ Quang Phương (2014): dự án là sự can thiệp có kế hoạch, nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu cũng như hoàn thành những công việc đã được định trước tại một địa bàn trong một khoảng thời gian nhất định, với những tiêu chí về tài chính và tài nguyên đã được định trước [9].
Theo Đinh Bá Hoàng Anh (2019): dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới [1] Theo Ngân hàng Thế giới: Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động, chi phí có liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt những mục tiêu nào đó trong một khoảng thời gian nhất định Theo luật đầu tư (2020): Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Như vậy, Dự án là quá trình biến ý tưởng thành hiện thực thông qua một chuỗi các hành động, quy định, công việc nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể trong giới hạn về thời gian và nguồn lực *Dự án đầu tư xây dựng Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về dự án đầu tư xây dựng cơ bản xét dưới các góc độ khác nhau [7] - Xét về mặt hình thức, dự án đầu tư xây dựng cơ bản là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục 6 tiêu nhất định trong tương lai. - Xét về góc độ quản lý, dự án đầu tư xây dựng cơ bản là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả kinh tế tài chính trong một thời gian dài. - Xét trên góc độ kế hoạch hóa, dự án đầu tư xây dựng cơ bản là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển KT-XH, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ.
Dự án đầu tư xây dựng cơ bản là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung. Xét về nội dung, dự án đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau, đó là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện để tạo ra các kết quả cụ thể. Những nhiệm vụ và các hoạt động cùng với một thời gian biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch thực hiện dự án Khoản 15 Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014: Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp những đề xuất liên quan đến việc sử dụng vốn để thực hiện hoạt động xây dựng để xây dựng mới, cải tạo và sửa chữa công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì và nâng cao chất lượng công trình hay sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn, cũng như chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án cần được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi của đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hay Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư xây dựng.
[11] Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Dự án đầu tư xây dựng cơ bản là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được 7 liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng dân dụng, công trình công nghiệp, công trình giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác. Như vậy, dù xét theo bất kỳ góc độ nào thì một dự án đầu tư xây dựng cơ bản đều bao gồm 4 vấn đề chính, đó là: mục tiêu của dự án, các kết quả, các hoạt động và các nguồn lực.
Trong 4 thành phần đó thì các kết quả được coi là cột mốc đánh dấu tiến độ của dự án. Vì vậy, trong quá trình thực hiện dự án phải thường xuyên theo dõi các đánh giá kết quả đạt được. Những hoạt động nào có liên quan trực tiếp đối với việc tạo ra các kết quả được coi là hoạt động chủ yếu phải được đặc biệt quan tâm Trong đó, hoạt động xây dựng sẽ gồm các công việc theo quy định tại Khoản 21 Điều 3 Luật Xây dựng 2014 gồm:[11] - Khảo sát xây dựng; - Thiết kế xây dựng; - Lập quy hoạch xây dựng; - Thi công xây dựng; - Lập dự án đầu tư xây dựng công trình; - Giám sát xây dựng *Công trình dân dụng Công trình dân dụng là công trình trong phân loại của nhà nước. Với các tiêu chí và tính chất khác nhau, các công trình dân dụng phản ánh tính chất được hay không được thực hiện các hoạt động gì.
Công trình dân dụng là các công trình xây dựng, bao gồm các loại nhà ở, nhà và công trình công cộng. Trong đó, tính chất dân dụng mang đến nhu cầu trong sở hữu và sử dụng bởi nhân dân. Đảm bảo hoạt động quản lý nhà nước với tính chất thực hiện cho các nhu cầu khác nhau của nhân dân. Theo thông tư 12/2012/TT-BXD: Công trình dân dụng là công trình 8 xây dựng bao gồm các loại nhà ở khác nhau và công trình công cộng [2] Phân loại của công trình dân dụng như sau: + Nhà ở gồm nhà riêng lẻ (biệt thự, nhà liền kề, nhà ở nông thôn truyền thống) và chung cư (cao tầng, nhiều tầng, thấp tầng, hỗn hợp, mini) + Công trình cộng đồng gồm công trình giáo dục, khách sạn, văn phòng, công trình văn hóa, công trình y tế, thương mại, nhà khác, tháp thu phát sóng phát thanh, nhà phục vụ thông tin liên lạc, bến xe, nhà ga, phát sóng truyền hình, công trình thể thao các loại.
Phân cấp công trình dân dụng: + Công trình dân dụng cấp I: là công trình có tổng diện tích sàn từ 10000m2 - 15000m2 (hay tức từ 10000m2 đến dưới 15000m2) hoặc có chiều cao từ 20-29 tầng. + Công trình dân dụng cấp II: là công trình có tổng diện tích sàn từ 5000m2 - 10000m2 (từ 5000m2 đến dưới 10000m2) hay có chiều cao từ 9-19 tầng. + Công trình dân dụng cấp III: là công trình có tổng diện tích sàn từ 1000m2 - 5000m2 (từ 1000m2 đến dưới 5000m2) hoặc có chiều cao từ 4-8 tầng. + Công trình dân dụng cấp IV: là công trình có tổng diện tích sàn dưới 1000m2 hay có chiều cao dưới 3 tầng.
+ Công trình dân dụng cấp đặc biệt: là công trình có tổng diện tích sàn lớn trên 15000m2, hoặc có chiều cao lớn hơn hay bằng 30 tầng. *Quản lý dự án Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. Quản lý dự án bao gồm ba giai đoạn chủ yếu. Đó là việc lập kế hoạch, 9 điều phối thực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí và thực hiện giám sát các công việc dự án nhằm đạt được những mục tiêu xác định.
Lập kế hoạch. Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tính nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động thống nhất, theo trình tự logic, có thể biểu hiện dưới dạng các sơ đồ hệ thống hoặc theo các phương pháp lập kế hoạch truyền thống. Điều phối thực hiện dự án. Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian.
Giai đoạn này chi tiết hóa thời gian, lập trình lịch cho từng công việc và toàn bộ dự án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó, bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp. Giám sát là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện. Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án giữa kỳ và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, kiến nghị các pha sau của dự án 1. Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng Thứ nhất, đầu tư xây dựng cơ bản được coi là yếu tố khởi đầu cơ bản cho sự phát triển.
Tuy nhiên, có nhiều yếu tố tạo nên tăng trưởng, trong đó có yếu tố đầu tư. Đặc điểm này không chỉ nói lên vai trò quan trọng của đầu tư trong quá trình phát triển kinh tế mà còn chỉ ra động lực quan trọng kích thích các hoạt động khác trong nền kinh tế phát triển. Thứ hai, đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi một khối lượng vốn lớn. Khối lượng vốn đầu tư lớn là yếu tố khách quan nhằm tạo ra những điều kiện vật chất và kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho yếu tố tăng trưởng và phát triển.
Vì vậy nếu không sử dụng vốn có hiệu quả sẽ gây nhiều phương hại đến sự phát triển kinh tế - xã hội.