Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về nâng cao năng suất lao động của nhân viên trực tiếp kinh doanh tại công ty Cổ Phần B2b Trọng Tín 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao nâng suất lao động của nhân viên trực tiếp kinh doanh tại doanh nghiệp Chương 3: Phân tích thực trạng về nâng cao năng suất lao động của nhân viên trực tiếp kinh doanh tại công ty Cổ Phần B2b Trọng Tín Chương 4: Đề xuất giải pháp về nâng cao năng suất lao động của nhân viên trực tiếp kinh doanh tại công ty Cổ Phần B2b Trọng Tín 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO NÂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA NHÂN VIÊN TRỰC TIẾP KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP 2. Một số khái niệm cơ bản về nâng cao năng suất lao động của nhân viên trực tiếp kinh doanh tại doanh nghiệp 2. Khái niệm về lao động “Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu qua cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước” (Luật lao động, 2012).
Trong kinh tế học: lao động được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa. Người có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất cung cấp hàng hóa này là người lao động. Cũng như mọi hàng hóa dịch vụ khác lao động được trao đổi trên thị trường được gọi là thị trường lao động. Mức tiền công chính là mức giá của lao động.
“Lao động trong doanh nghiệp thương mại là bộ phận lao động xã hội cần thiết được phân công thực hiện quá trình lưu thông hàng hóa. Bao gồm lao động thực hiện quá trình mua bán, vận chuyển, đóng gói, chọn lọc, bảo quản và quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mục đích lao động của họ là nhằm đưa hàng hóa từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng” (Phạm, Công Đoàn & Nguyến, Cảnh Lịch, Giáo trình kinh tế doang nghiệp thương mại, 2012). Như vậy, theo cách hiểu đơn giản nhất: Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tác động, biến đổi các vật chất tự nhiên thành những vật phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn của con người.
Khái niệm về năng suất Năng suất là tính hiệu quả của hoạt động sản xuất được đo bằng việc so sánh giữa khối lượng sản xuất trong những thời gian hoặc nguồn lực được sử dụng để tạo ra nó (Theo Từ điển Oxford). Năng suất là thương số thu được bằng cách chia đầu ra cho một trong những nhân tố sản xuất. Trong trường hợp này có thể nói về năng suất của vốn, năng suất đầu tư hoặc năng suất của nguyên vật liệu…, tùy theo cách xem xét đầu ra trong mối quan hệ với vốn, đầu tư hay nguyên liệu (Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD) Hiểu theo cách đơn giản, năng suất là thước đo mức đo hiệu quả của các hoạt động tạo ra kết quả đầu ra: số lượng, giá trị gia tăng; từ các yếu tố đầu vào: lao động, vốn, nguyên vật liệu… (Theo viện năng suất Việt Nam VNPi). Năng suất là một trạng thái tư duy.
Nó là một thái độ nhằm tìm kiếm và cải thiện những gì đang tồn tại. Có một sự chắc chắn rằng ngày hôm nay con người có thể làm việc tốt hơn ngày hôm qua và ngay mai tốt hơn ngày hôm nay. Hơn nữa nó đòi hỏi những cố gắng không ngừng để thích ứng với các hoạt động kinh tế trong những điều kiện luôn thay đổ. Đó là sự tin tưởng chắc chắn trong quá trình tiến triển của loài người (Nguyễn Đình Phan).
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại: Năng suất là mối tương quan giữa các kết quả của đầu ra với các đầu vào đã sử dụng, được biểu thị bằng công thức : Năng suất = Đầu ra/ Đầu vào 2. Khái niệm về năng suất lao động trong doanh nghiệp thương mại Năng suất lao động là mức tiêu thụ hàng hóa bình quân của một nhân viên bán hàng trong một đơn vị thời gian hoặc giảm thời gian lao động cần thiết để thực hiện một đơn vị giá trị hàng hóa tiêu thụ. Đơn vị hàng hóa tiêu thụ ở đây có thể tính bằng tiền hoặc sản phẩm. Như vậy, nâng cao năng suất lao động luôn luôn gắn liền với giảm giá thành sản xuất kinh doanh, do tăng năng suất lao động giúp doanh nghiệp giảm được số lượng lao động không cần thiết và người lao động doanh nghiệp chất lượng hơn, có thể sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn trước (Phạm Công Đoàn, Giáo trình Kinh tế doanh nghiệp thương mại, 2007).
Năng suất lao động là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất làm việc của lao động, thường đo bằng tổng sản phẩm trong nước tính bình quân một lao động trong thời kì tham chiếu, thường là một năm dương lịch (Theo Tổng cục thống kê Việt Nam). Năng suất lao động được định nghĩa là số lượng sản phẩm( GDP) được tạo ra trên một đơn vị người lao động làm việc hoặc trên mỗi giờ lao động (Theo tổ chức quốc tế ILO). Năng suất lao động là phạm trù kinh tế phản ánh sức sản xuất của lao động và được đo lường bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc là lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Năng suất lao động là một chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, phản ánh mối tương quan giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Công thức tính năng suất lao động: Năng suất lao động = Doanh thu thuần/Tổng số lao động Chỉ tiêu năng suất lao động phản ánh năng lực sản xuất kinh doanh của một lao động, một lao động trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Nếu doanh thu thuần tăng và số nhân viên bình quân trong kỳ tăng ít hơn thì năng suất lao động bình quân của một lao động trong kỳ sẽ tăng. Nếu tốc độ tăng của doanh thu thuần nhỏ hơn tốc độ tăng của lao động bình quân thì năng suất lao động giảm. Vì vậy doanh nghiệp cần sắp xếp, bố trí, sử dụng lao động hợp lý sao cho số nhân viên là đủ, tránh thừa.
Như vậy, năng suất lao động phản ánh mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào được đo bằng thời gian làm việc. Từ nhiều khái niệm chúng ta có thể hiểu một cách tổng quát nhất: “Năng suất lao động là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất của người lao động trong quá trình sản xuất”. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nội dung nghiên cứu về nâng cao năng suất lao động của nhân viên trực tiếp kinh doanh tại doanh nghiệp 2.
Cách tính năng suất lao động <a> Năng suất lao động tính bằng giá trị: Chỉ tiêu này quy tất cả sản lượng về tiền của tất cả các loại sản phẩm thuộc doanh nghiệp hoặc ngành sản xuất ra, để biểu thị mức năng suất lao động. +> Công thức: W = Q/T W: Mức năng suất lao động +> Trong phạm vi cả nước Q: Giá trị sản xuất T: Tổng số công số lao động làm việc trong nền kinh tế quốc dân +> Trong phạm vi doanh nghiệp Q: Là giá trị tổng sản lượng, giá trị gia tăng hay doanh thu T: Người lao động trong doanh nghiệp, ngày, giờ, phút, ngày- người, giờ người. Ưu điểm : Chỉ tiêu này có thể dùng nó tính cho các loại sản phẩm khác nhau kể cả sản phẩm dở dang.Khắc phục được nhược điểm của chỉ tiêu NSLĐ tính bằng hiện vật Nhược điểm : + Không khuyến khích tiết kiệm vật tư, và dùng vật tư rẻ. Nơi nào dùng nhiều vật tư hoặc vật tư đắt tiền sẽ đạt mức năng suất lao động cao hơn + Chịu ảnh hưởng của của cách tính tổng sản lượng theo phương pháp công xuởng.
Nếu lượng sản phẩm hiệp tác với ngoài nhiều, cơ cấu sản phẩm thay đổi sẽ làm sai lệch mức năng suất lao động của bản thân doanh nghiệp + Chỉ dùng trong trường hợp cấu thành sản phẩm sản xuất không thay đổi hoặc ít thay đổi vì cấu thành sản phẩm thay đổi sẽ làm sai lệch mức và tôc độ tăng năng suất lao động. Khi thay đổi từ sản phẩm hao phí sức lao động ít mà giá trị cao sang sản xuất sản phẩm hao phí sức lao độngcao mà giá trị thấp thì năng suất lao động giảm và ngược lại năng suất lao động tăng. +> Phạm vi áp dụng: chỉ tiêu này có phạn vi sử dụng rộng rãi, từ các doanh nghiệp đến ngành và nền kinh tế quốc dân. Có thể dùng để so sánh mức năng suất lao động giữa các doanh nghiệp sản xuất các ngành với nhau <b> Năng suất lao động tính bằng thời gian: Chỉ tiêu này dùng thời gian hao phí cần thiết để sản xuất ra ra một đơn vị sản phẩm để biểu hiện năng suất lao động.
+> Công thức: t = T/Q Trong đó: t : lượng lao động hao phí của sản phẩm ( tính bằng đơn vị thời gian ) T: thời gian lao động đã hao phí Q: Số lượng sản phẩm theo hiện vật 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lượng lao động này tính được bằng cách tổng hợp chi phí thời gian lao động của các bước công việc, các chi tiết sản phẩm (đơn vị tính bằng giờ, phút). Và được chia thành : + Lượng lao động công nghệ: Lcn bao gồm chi phí thời gian của công nhân chính,hoàn thành các quá trình công nghệ chủ yếu + Lượng lao động chung : (Lch) chi phí thời gian của công nhân hoàn thành quá trình công nghệ cũng như phục vụ quá trình công nghệ. Công thức tính L = Lcn + Lpvq ( Lpvq là lượng lao động phục vụ quá trình công nghệ) + Lượng lao động sản xuất : (Lsx) chi phí thưòi gian lao động của công nhân chính và công nhân phụ trong toàn doanh nghiệp.công thức tính: Lsx = Lcn + Lpvq + Lpvs. ( Lpvs là lượng lao động phục vụ sản xuất) + Lượng lao động đầy đủ: ( Lđđ) bao gồm hao phí lao động trong việc chế tạo sản phẩm của các loại công nhân viên sản xuất công nghiệp trong doanh nghiệp Ưu điểm: Phản ánh được cụ thể mức tiết kiệm về thời gian lao động để sản xuất ra một sản phẩm.