Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực tư vấn dự án quốc tế Chương 2: Thực trạng năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TƯ VẤN DỰ ÁN QUỐC TẾ 1. Những vấn đề lý luận về dự án quốc tế 1. Khái niệm dự án quốc tế Dự án là “một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới” (Từ Quang Phương, 2014).
Hiểu một cách đơn giản, dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau được thực hiện trong một khoảng thời gian có hạn với những nguồn lực đã được giới hạn, đặc biệt là nguồn tài chính để đạt được những mục tiêu cụ thể, rõ ràng, làm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng mà dự án hướng đến. Theo đó, dự án quốc tế là dự án được thực hiện trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia với sự tham gia của các chủ thể nước ngoài nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra của dự án. Thông thường, các DAQT thường nhận được 100% hỗ trợ (dưới hình thức tài chính hoặc phi tài chính) từ các chính phủ, tổ chức chính phủ và phi chính phủ của nước ngoài nhằm mục đích hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội của nước tiếp nhận theo hướng bền vững. Đặc điểm của dự án quốc tế - Tính mục tiêu: Mỗi dự án khi được thiết kế đều có mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể riêng biệt, phù hợp với điều kiện của nơi dự án được triển khai thực hiện.
Sản phẩm cuối cùng sẽ được xem xét, đánh giá xem có phù hợp, có đạt được các mục tiêu đã đặt ra hay không. - Có các hạn định rõ ràng: Mỗi dự án khi được thiết kế đều được xác định thời gian bắt đầu triển khai và thời gian kết thúc cụ thể. Ngoài ra, các mốc thời gian khác bao gồm theo dõi, đánh giá tiến độ thực hiện dự án, nộp báo cáo cũng được xác định trước nhằm đảm bảo dự án được thực hiện trong khoảng thời gian đã đặt ra. - Tính khác biệt: Các dự án đều được thiết kế khác nhau nhằm đảm bảo 7 không có sự trùng lặp gây lãng phí không cần thiết.
Mỗi dự án khác nhau có mục tiêu khác nhau. Theo đó, cách thức tổ chức thực hiện cũng khác nhau. Các hoạt động đều đảm bảo được thiết kế phù hợp với từng dự án cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu đã đặt ra. - Tính giới hạn: Mỗi dự án đều được giới hạn thực hiện trong phạm vi thời gian đã đặt ra với các nguồn lực và phạm vi kinh phí nhất định đã được duyệt bởi nhà đầu tư.
- Có yếu tố nước ngoài: Một dự án được gọi là DAQT khi nó có sự tham gia của các chủ thể nước ngoài, trong đó các chủ thể nước ngoài thường đóng vai trò là nhà tài trợ hoặc chủ đầu tư cung cấp vốn cho việc thực hiện dự án. - Hình thức đầu tư đa dạng: Đối với các DAQT được nghiên cứu trong luận văn này là các dự án được thực hiện không phải với mục đích đầu tư sinh lời mà là các dự án hỗ trợ, giúp đỡ nhằm mục tiêu phát triển bền vững thì hình thức đầu tư cũng đa dạng hơn. Ngoài hình thức đầu tư tài chính truyền thống là cung cấp một khoản vốn nhất định cho BQLDA thực hiện dự án, thì còn có các hình thức đầu tư phi tài chính khác bao gồm hỗ trợ về mặt công nghệ, kỹ thuật; tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao năng lực, kiến thức, kỹ năng cho cán bộ, người dân. - Tính quốc tế: Sản phẩm của các DAQT sẽ được làm tài liệu tham khảo rộng rãi không chỉ giới hạn trong phạm vi của nước tiếp nhận mà còn được sử dụng bởi các chính phủ, tổ chức nước ngoài để phục vụ công tác nghiên cứu, tìm hiểu thông tin về nước đó khi được chủ đầu tư cho phép sử dụng.
Chủ thể tham gia dự án quốc tế Giống như dự án, DAQT được thực hiện với sự tham gia, quản lý của nhiều chủ thể khác nhau bao gồm cả chủ thể ở cấp vĩ mô và vi mô như sau: - Nhà tài trợ: là tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài cung cấp một phần hoặc toàn bộ kinh phí, vốn cho dự án và giải ngân theo kế hoạch giải ngân trong văn kiện dự án với sự phối hợp thực hiện của đơn vị quản lý dự án. - Chủ đầu tư: là tổ chức hoặc cá nhân sở hữu vốn hoặc được giao quyền quản lý và sử dụng vốn. Đối với các DAQT nhằm mục đích hỗ trợ, giúp đỡ phát triển 8 kinh tế-xã hội bền vững, chủ đầu tư là không phải là người trực tiếp bỏ vốn đầu tư mà là đại diện hợp pháp của nhà tài trợ tại nước tiếp nhận, có vai trò quản lý nguồn vốn do nhà tài trợ cung cấp để thực hiện dự án theo đúng chương trình, kế hoạch đã đặt ra. - Ban quản lý dự án: là những người được chủ đầu tư lựa chọn để thực hiện quản lý dự án của mình.
Tùy theo quy mô và tính chất của dự án, BQLDA được chủ đầu tư giao một số chức năng, nhiệm vụ nhất định để quản lý, thực hiện dự án. - Tổ chức tư vấn: là tổ chức nghề nghiệp có tư cách pháp nhân, có đủ tiêu chuẩn theo pháp luật để thực hiện việc cung cấp dịch vụ tư vấn và được BQLDA lựa chọn thực hiện các hạng mục công việc của dự án phù hợp với năng lực của tổ chức tư vấn. TCTV chịu sự kiểm tra thường xuyên của BQLDA và chủ đầu tư trong quá trình thực hiện các hạng mục công việc của dự án. Mối quan hệ giữa tổ chức tư vấn với ban quản lý dự án và chủ đầu tư là quan hệ hợp đồng.
Những vấn đề lý luận về năng lực tư vấn dự án quốc tế của tổ chức tư vấn 1. Một số khái niệm Khái niệm năng lực Năng lực là một thuật ngữ trìu tượng, khó định nghĩa được chính xác. Theo cách hiểu thông thường, năng lực là “sự kết hợp của tư duy, kỹ năng và thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng có thể học hỏi được của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện thành công nhiệm vụ” (DeseCo, 2002). Mức độ và chất lượng hoàn thành công việc sẽ phản ứng mức độ năng lực của cá nhân, tổ chức đó.
Năng lực không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn là được hình thành qua quá trình học hỏi, luyện tập và làm việc. Khái niệm tư vấn Tư vấn là một ngành dịch vụ trìu tượng và có thể định nghĩa là một tiến trình tương tác giữa nhân viên tư vấn và khách hàng nhằm giúp đỡ, cung cấp thông tin để khách hàng có thể phát triển tiềm năng của bản thân và tìm ra giải pháp của vấn đề. Tư vấn là giảng giải và đưa ra một lời khuyên về nghiệp vụ, hoặc góp ý về một vấn 9 đề cụ thể nhưng không có quyền quyết định. Khái niệm tư vấn dự án quốc tế Tư vấn dự án quốc tế là việc thu thập và xử lý thông tin, vận dụng kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ để đưa ra những lời khuyên cũng như đề xuất các giải pháp, phương án để thực hiện, giám sát, đánh giá dự án quốc tế.
Khái niệm năng lực tư vấn dự án quốc tế Từ các khái niệm trên có thể định nghĩa năng lực tư vấn dự án quốc tế là khả năng vận dụng các kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và kinh nghiệm thực tế của cá nhân, tổ chức vào việc thực hiện, triển khai, giám sát và đánh giá các DAQT được tài trợ bởi các cá nhân, tổ chức nước ngoài nhằm mục đích hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội bền vững. Năng lực tư vấn DAQT của một cá nhân, tổ chức được đánh giá dựa trên kinh nghiệm tham gia tư vấn các DAQT, mức độ và chất lượng hoàn thành nhiệm vụ tư vấn cho các DAQT của cá nhân, tổ chức đó. Nội dung năng lực tư vấn dự án quốc tế của tổ chức tư vấn Năng lực tư vấn DAQT của TCTV được hình thành tư nhiều yếu tố, tuy nhiên các yếu tố chính bao gồm: Năng lực nhân sự tư vấn dự án quốc tế của tổ chức tư vấn Nhân sự luôn đóng vai trò quan trọng trong tất cả các công việc. Nhân sự là yếu tố tiên quyết quyết định sự thành công hay thất bại của tất cả các doanh nghiệp, tổ chức.
Doanh nghiệp, tổ chức nào có đội ngũ nhân sự chất lượng cao thì sẽ đạt được hiệu quả công việc cao, nhờ đó ngày càng phát triển và có chỗ đứng vững vàng trên thị trường. Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ tư vấn cho các DAQT, năng lực nhân sự tham gia tư vấn của TCTV cũng là yếu tố quan trọng hàng đầu. Theo thang điểm đánh giá hồ sơ dự thầu cho hoạt động nghiên cứu sinh kế thuộc dự án “Nâng cao khả năng chống chịu của các cộng đồng ven biển trước những tác động của biến đổi khí hậu tại Việt Nam” của UNDP (2017), đội ngũ nhân sự đề xuất tham gia thực hiện tư vấn chiếm trọng số điểm cao nhất, 50% tổng số điểm đánh giá đề xuất kỹ thuật của hồ sơ dự thầu. Điều này chứng tỏ, năng lực nhân sự có vai trò cốt lõi trong 10 việc hình thành năng lực tư vấn DAQT của TCTV.
Năng lực nhân sự tư vấn DAQT của TCTV được thể hiện qua rất nhiều khía cạnh bao gồm: - Trình độ học vấn trong ngành nghề/ lĩnh vực tư vấn yêu cầu Trình độ học vấn được hiểu là bằng cấp cao nhất mà một người đạt được. Đội ngũ nhân sự tư vấn DAQT của TCTV có trình độ học vấn trong ngành nghề/lĩnh vực tư vấn yêu cầu càng cao chứng tỏ họ có kiến thức chuyên môn sâu rộng. Điều này góp phần lớn vào thành công của TCTV khi cung cấp dịch vụ tư vấn cho các DAQT. Thông thường, theo điều khoản tham chiếu của các tổ chức nước ngoài như UNDP (2017), OXFAM (2017), EU-MUTRAP (2016), đội ngũ nhân sự tham gia vào hoạt động tư vấn DAQT tại các TCTV được yêu cầu có bằng tốt nghiệp đại học trở lên.