phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, phần chính của Luận văn gồm 3 chƣơng, trong đó: Chƣơng 1. Lý luận chung về năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã Chƣơng 2. Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã huyện Chƣơng Mỹ, thành phố Hà Nội Chƣơng 3. Giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã huyện Chƣơng Mỹ, thành phố Hà Nội 6 e Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG – THỐNG KÊ CẤP XÃ 1.
Công chức cấp xã và công chức văn phòng – thống kê cấp xã 1. Công chức cấp xã Trên thế giới, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm Công chức. Có thể thấy bất cứ nhà nƣớc nào đều cần xây dựng và quản lý một đội ngũ công chức bao gồm những ngƣời có năng lực quản lý, có trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt, làm việc nghiêm túc vì bổn phận của mình trƣớc nhân dân. Theo quan niệm về công chức ở Đức khá rộng: công chức là những nhân viên làm việc trong các cơ quan, tổ chức văn hóa, nghệ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia, nhân viên công tác trong các doanh nghiệp công ích do Nhà nƣớc quản lý, các nhân viên, quan chức làm việc trong các cơ quan chính phủ, các giáo sƣ đại học, giáo viên trung học, tiểu học, bác sĩ, hộ lý bênh viện, nhân viên lái xe lửa.
Ở Anh, khái niệm công chức chỉ bao hàm những nhân viên công tác trong ngành Hành chính. Khái niệm Công chức đã đƣợc nhà nƣớc ta quan tâm từ những ngày đầu thành lập. Ở nƣớc ta, khái niệm công chức đƣợc hình thành, gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nƣớc, qua từng giai đoạn khác nhau: Theo điều 1, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì công chức là “những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nƣớc đều là công chức theo qui chế này, trừ những trƣờng hợp riêng do Chính phủ qui định”. Nhƣ vậy, phạm vi công chức rất hẹp, chỉ là những ngƣời đƣợc tuyển dụng giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan Chính phủ, không bao gồm ngƣời làm trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát,…Sau đó một thời 7 e gian dài (từ đầu thập kỷ 60 đến đầu thập kỉ 80 thế ký XX), ở nƣớc ta gần nhƣ “không tồn tại khái niệm công chức” mà thay vào đó là khái niệm “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước” chung chung, không phân biệt công chức, viên chức” [28, tr.
Đến năm 1990, do yêu cầu khách quan của tiến trình cải cách nền hành chính nhà nƣớc và đòi hỏi phải chuẩn hóa đội ngũ cho phù hợp với thông lệ quốc tế, thuật ngữ và khái niệm này đƣợc qui định trong Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trƣởng (nay là Chính phủ) nhƣ sau: “Công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong một công sở của Nhà nƣớc ở trung ƣơng hay địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc, đã đƣợc xếp vào một ngạch, hƣởng lƣơng do ngân sách nhà nƣớc gọi là công chức”. Tuy nhiên tại Điều 2 của Nghị định này, khi qui định những ngƣời là công chức và không phải công chức thì lại có một số đối tƣợng nhƣ công an, những ngƣời làm nghiên cứu khoa học, giáo viên, nhà báo, nghệ sỹ… chƣa đƣợc xếp loại nào. Tháng 2 năm 1998, Pháp lệnh cán bộ, công chức đƣợc Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội khóa X ban hành. Điều 1 của Pháp lệnh qui định: “Cán bộ, công chức đƣợc qui định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc…”.
Qui định này khẳng định quan điểm và nhận thức mới về đội ngũ cán bộ công chức trong giai đoạn hiện nay, song vẫn chƣa có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ và công chức. Tháng 11 năm 1998, Nghị định số 95/CP về “tuyển dụng và sử dụng, quản lý công chức” đƣợc ban hành. Tiếp đó cùng với việc sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh cán bộ, công chức vào năm 2003, một số Nghị định, Thông tƣ mới đƣợc ban hành, các Nghị định, Thông tƣ này đã làm rõ hơn khái niệm công chức bao gồm: “những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thƣờng xuyên, đƣợc phân loại theo một trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, đƣợc xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế 8 e và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc… Những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc đƣợc giao nhiệm vụ thƣờng xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp”. Ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII, Luật cán bộ, công chức đƣợc thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010.
Tại khoản 2, khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ công chức quy định: - “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”[1,tr3] - “Công chức xã, phường, thị trấn (xã, phường, thị trấn sau đây gọi chung là cấp xã) làm công tác chuyên môn thuộc biên chế của Ủy ban nhân dân cấp xã, có trách nhiệm tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao” [1,tr4] Các chức danh công chức cấp xã cũng đƣợc quy định cụ thể tại Khoản 3, Điều 61 Chƣơng V của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và tại Khoản 2, Điều 3 Chƣơng II của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ 9 e về chức danh, số lƣợng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phƣờng, thị trấn và những ngƣời hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Theo đó ở chính quyền cấp xã gồm 07 chức danh công chức sau: - Trƣởng công an; - Chỉ huy trƣởng Quân sự; - Văn phòng – Thống Kê; - Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trƣờng (đối với phƣờng, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trƣờng (đối với xã); - Tài chính – Kế toán; - Tƣ pháp – Hộ tịch; - Văn hóa – Xã hội; Theo Điều 8 Luật tổ chức chính quyền địa phƣơng năm 2015. Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng, chịu trách nhiệm trƣớc nhân dân địa phƣơng, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nƣớc cấp trên. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phƣơng ở xã cũng đƣợc quy định cụ thể ở Điều 31 Luật tổ chức chính quyền địa phƣơng.
Theo đó, UBND cấp xã có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: - Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn xã - Quyết định những vấn đề của xã trong phạm vi đƣợc phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. - Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nƣớc cấp trên ủy quyền. - Chịu trách nhiệm trƣớc chính quyền địa phƣơng cấp huyện về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phƣơng ở xã. - Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn xã.
10 e Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “ Cấp xã là gần dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm đƣợc việc thì mọi việc đều xong xuôi”. Nhƣ vậy, cấp xã là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện đƣờng lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc đi vào cuộc sống, là cấp chính quyền trực tiếp với dân, gần dân, sát dân nhất, giải quyết mọi vấn đề ở địa phƣơng, trực tiếp nắm bắt tâm tƣ, nguyện vọng, tình cảm của nhân dân. Chính quyền xã là cấp chính quyền cuối cùng ở nông thôn, gần dân nhất trong hệ thống hành chính Nhà nƣớc 4 cấp, là nền tảng của hệ thống chính trị, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc.
Chính quyền cấp xã trực tiếp tuyên truyền, phổ biến và kiểm nghiệm sự đúng đắn, chính xác đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật và các giải pháp quản lý phát triển xã hội. Vì vậy, chính quyền xã hoạt động có hiệu quả thì các chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc dễ dàng đi vào cuộc sống, tạo niềm tin và sự phấn khởi của nhân dân.