mở đầu công việc xây dựng đất nước bước vào qui mô lớn, đặt nền tảng vững chắc và toàn diện cho sự phát triển của dân tộc và của quốc gia phong kiến độc lập". Nhà Lý được đánh giá là một triều đại rất coi trọng nông nghiệp. Đắp đê trị thủy là việc rất cần thiết và cấp bách, cần phải có sự chung tay của cả quốc gia và dân chúng, không thể phó mặc cho một các nhân hay một tập thể riêng biệt. Những con đê qui mô lớn đến năm 1077 triều đình có chủ trương đứng ra đắp đê.
7 Sang đến đời Trần công tác thủy lợi được chú trọng, triều đình cho đắp thêm theo từng tuyến sông chính từ đầu nguồn ra đến biển, tôn cao đắp to những đoạn đã có, đắp thêm những đoạn nối, cải tạo một số tuyến vòng vèo bất hợp lý. Về cơ bản những tuyến đê đó gần giống như ngày nay, nhất là tuyến đê sông Hồng và sông Cầu. Về kỹ thuật đắp đê thời kỳ này là một bước nhảy vọt và có những tiến bộ nhất định để tạo nên thế nước chảy thuận, có thể xác định được chiều cao từng đoạn đê, tuyến đê cho phù hợp với đường mặt nước lũ. Cảnh đắp đê Thời Trần (tranh vẽ) Trên nền hệ thống đê điều đã được xây dựng, các triều đại phong kiến sau này kế thừa và phát triển.
Dưới triều Nguyễn, bẩy đoạn đê được cho xây mới. Các điều lệ và các quy định cũng được đề ra vào tháng 9 năm 1809 để kiểm tra và phòng chống lũ hàng năm. Thời kì bị thực dân Pháp đô hộ, Pháp nhận thức rõ được tầm quan trọng về cả kinh tế và chính trị của Bắc Kỳ. Vì vậy, ngay từ những ngày đầu, chính quyền Pháp cũng rất đề tâm đến tình hình đê điều của Việt Nam.
Tuy nhiên, không lường trước được tình hình thiên tai của nước ta, thực dân Pháp đã phải chịu một trận lũ lịch sử năm 1915 gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của. Từ đó, chính quyền thực dân ms nghiêm túc thực hiện kế hoạch đắp đê quy mô tại Bắc Bộ mà ngày nay chúng ta vẫn còn nhắc 8 tới như: Xây dựng hồ chứa ở thượng nguồn để cắt lũ; tái sinh rừng thượng nguồn để chậm lũ; đắp đê cao hơn mức lũ đặc biệt; củng cố đê hiện tại và tôn cao đến mức an toàn tuyệt đối. Giai đoạn 1945-1975, ngay sau khi giành được độc lập, Chính phủ đã quan tâm đến công tác trị thủy để khai thác nguồn nước, phòng chống tác hại của thiên tai liên quan đến nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, bảo vệ dân cư. Ngày 28/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh thành lập Bộ Giao thông Công chính - cơ quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ về Thuỷ lợi của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Công tác thủy lợi sau đó được giao cho Bộ Thủy lợi và Kiến trúc (1955), Bộ Thủy lợi (1958), Bộ Thủy lợi và Điện lực (1960), Bộ Thủy lợi (1962). Công tác thủy lợi thời kỳ này có thể chia thành nhiều giai đoạn, với mục tiêu phát triển khác nhau: từ trọng tâm là gia cố, bảo vệ đê điều, bảo vệ và quản lý hiệu quả các hệ thống nông giang đã có, mở rộng diện tích tưới kết hợp với làm thủy lợi nhỏ những năm 1945 - 1954; Phục hồi các công trình lớn, mở rộng các công trình vừa và nhỏ trong kế hoạch khôi phục kinh tế giai đoạn 1955 - 1957; thực hiện ba chính (giữ nước là chính, thủy lợi nhỏ là chính, nhân dân làm là chính) trong kế hoạch cải tạo, phát triển kinh tế giai đoạn 1958 - 1960; Để phát triển mạnh mẽ công tác thủy lợi và cải tạo đất để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, giải quyết hạn hán, thanh toán chua, mặn, thu hẹp tối thiểu diện tích úng, đảm bảo chống lụt, bão, mặn; bước đầu trị thủy và khai thác sông Hồng trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961 - 1965; hoàn chỉnh thủy nông những năm 1968 - 1975. Giai đoạn này đã ghi nhận những thành quả to lớn của Chính phủ và nhân dân ta trong công tác thủy lợi, có những quyết sách đột phá, giải pháp quan trọng phát triển thủy lợi, hệ thống đê điều để khắc phục những khó khăn ngày đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngay trong thời gian từ năm 1945 - 1954, tại những vùng tự do đã tập trung tu bổ, bồi đắp những đoạn đê xung yếu, chủ yếu ở Bắc Bộ và vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh.
Ở Việt Nam tại thành phố, các khu dân cư và vùng nông nghiệp thường phát triển dọc theo các vùng ven sông và chịu ảnh hưởng từ các yếu tố lũ và nguy cơ ngập lụt cao. Xây dựng hệ thống đê dọc theo các nhánh sông là giải pháp phòng chống lũ đã được ông cha ta sử dụng từ lâu đời, để bảo vệ các vùng dân cư ven sông và toàn bộ vùng 9 châu thổ trước nguy cơ ngập lụt. Hệ thống đê điều Việt Nam hiện nay có quy mô lớn với tổng số khoảng 9.080km đê các loại, trong đó có 5.547km là đê sông, 1.343km đê cửa sông và 1.150km đê cửa biển, có 2.727km đê từ cấp III đến cấp đặc biệt. Qua đánh giá hiện trạng, các tuyến đê từ cấp III trở lên hiện còn 399km đê thiếu cao trình, 683km đê mặt cắt còn nhỏ, 160km đê thường bị đùn sủi, thẩm lậu, 459 cống cũ hư hỏng, 158km kè sạt lở, hư hỏng, 230 trọng điểm xung yếu cần đặc biệt chú ý trong mùa lũ bão.
Gia tăng sức ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đối với hệ thống công trình thủy lợi được xây dựng từ lâu đã xuống cấp, năng lực phục vụ thấp, trong bối cảnh nguồn lực đầu tư nâng cấp, sửa chữa còn hạn chế là thách thức lớn đối với an ninh nguồn nước quốc gia. Ngày 07/10/2019, Thủ tướng Chính ohur ban hành chỉ thị số 24/CP-TTg về việc tawg cường xử lý vi phạm pháp luật về đê điều. Cụ thể, Thủ tướng yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường quản lý đê điều, chỉ đạo cơ quan chắc năng và cấp ủy đảng, chính quyền các cấp ở địa phương thực hiện đầy đủ trách nhiệm ngăn chặn, xử lý vi phạm theo đúng quy định pháp luật, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liê quan thường xuyên kiểm tra, kịp thời phát hiện hành vi vi phạm, ngăn chặn ngay từ khi mới phát sinh, xử lý nghiêm,kiên quyết dứt điểm từng vụ vi phạm, gắn trách nhiệm lên người đứng đầu để xảy ra các vụ vi phạm và kết quả xử lý vi phạm theo luật đê điều. Việc hình thành hệ thống đê thể hiện sự đóng góp, chung tay và cố gắng của nhân dân trong suốt nhiều thế kỷ qua.
Tuy tại một số nơi đê còn chưa đảm bảo hoàn toàn được tính ổn định cao đối với lũ lớn, tuy vậy vai trò bảo vệ của các tuyến đê sông hay hệ thống đê biển là rất to lớn và không thể phủ định. Hàng năm, hệ thống đê đều được nhà nước đầu tư củng cố, nâng cấp, đặc biệt sau khi xảy ra lũ lớn. Đê sông đã ngày càng từng bước củng cố vững chắc đáp ứng được yêu cầu chống lũ đặt ra của từng thời kỳ. * Đê sông của Việt Nam không giống các nước khác mà tạo thành dãy theo hệ thống các con sông, riêng biệt không nối liền nhau.
Hệ thống đê sông Hồng và hệ thống đê sông Thái Bình nằm trong hệ thống đê ở đồng 10 bằng sông Hồng với quy mô lớn nhất nước ta có tổng chiều dài khoảng 2. Sông Hồng có tổng chiều dài là 1.149 km được chảy bắt nguồn từ Trung Quốc qua Việt Nam và sau đó đổ ra biển Đông. Đoạn chảy trên đất Việt Nam có chiều dài 510 km. Nhìn chung, đê có chiều cao phổ biến từ 5 ÷ 8 m, có nơi cao tới 11 m.
Trong đó đê thuộc hệ thống sông Hồng có 18 tuyến, tổng chiều dài khoảng 1.314 km dọc theo các sông: Đà, Thao, Lô, Phó Đáy, Hồng, Đuống, Luộc, Trà Lý, Đào, Ninh Cơ và sông Đáy, được chia thành: - Đê cấp đặc biệt (đê hữu sông Hồng nằm trong nội thành Hà Nội) là 37,09 km - Đê cấp I là 388,2 km. - Đê cấp II là 376,9 km, đê cấp III là 510,9 km. Các con sông: Công, Cầu, Thương, Lục Nam, Thái Bình, Kinh Thầy, Lai Vu, Cà Lồ, Văn Úc, Lạch Tray, Hóa, Cấm, Bạch Đằng, Tam Bạc, Nam, Đá Bạch và sông Chanh đều thuộc hệ thống đê sông Thái Bình với tổng chiều dài khoảng 698 km: - Đê cấp I là 73,9 km. - Đê cấp II là 148,0 km.
- Đê cấp III là 475,3 km. Các tuyến đê ở các tỉnh miền Trung gồm tuyến đê thuộc hệ thống sông Mã và sông Cả- là hai hệ thống sông lớn ở Bắc Trung Bộ. Hệ thống đê sông Mã và sông Cả có tổng chiều dài là 381,47 km, trong đó chiều dài đê nằm trong hệ thống sông Mã, sông Chu là 316,1 km; Chiều dài đê thuộc hệ thống sông Cả và sông La là 65,4 km. Hiện tại tuyến đê thuộc hai hệ thống sông này chỉ còn lại khoảng 31 km đê thấp so với thiết kế, khoảng 164 km có mặt cắt đê nhỏ, mái dốc chưa có cơ, thân đê còn chưa hoàn thiện, nền đê nhiều đoạn là nền cát hoặc bùn; lòng sông có độ dốc lớn và diễn biến rất phức tạp, nhiều đoạn đê sát sông.
Ở miền Nam hệ thống đê điều chủ yếu là đê biển và đê cửa sông góp phần quan trọng trong việc bảo vệ phát triển và ổn định sản xuất, đời sống nhân dân và bảo vệ an ninh quốc phòng. Đê sông ở miền Nam có kết cấu đơn giản hơn so với đê sông ở miền Bắc, 11 chủ yếu là đê bao, đê bối ngăn mặn. * Việc phân loại đê do Chính phủ quy định [12] dựa trên các tiêu chí như sau: Số dân được bảo vệ, tầm quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh tế và xã hội; đặc điểm lũ, bão trong các năm của từng vùng; diện tích và phạm vi địa giới hành chính; độ ngập sâu trung bình tại các khu dân cư so với mực nước lũ thiết kế; lưu lượng lũ thiết kế. Có nhiều cách phân loại hệ thống đê điều [1]: - Phân loại theo nhiệm vụ đê điều: Hệ thống đê điều hiện nay được chia làm nhiều loại với từng nhiệm vụ ở từng khu vực khác nhau: + Đê là công trình có tác dụng ngăn nước lũ của sông hoặc ngăn nước biển, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân loại, phân cấp theo quy định của pháp luật.