CHƯƠNG 1 TONG QUAN HE THONG DE DIEU VÀ CÔNG TAC QUAN LÝ DE DIEUỞ VIỆT NAM VA THE GIỚI. Tổng quan về hệ thống để điều 6 Việt Nam Việt Nam với địa hình đặc biệt có bờ biển dai doc theo lãnh thổ, sông suối rit trong 46 có những con sông quốc tế dén Việt Nam là điểm hạ lưu cuối cùng như sông Hồng, sông Cửu Long,. nên việc xây dựng dé dé ngăn nước ngập lụt là điều tất yếu. Lich sử ghỉ nhận qué trình hình thành hệ thống để diễu Việt Nam từ thời Lý - Trần ‘Vea mới lên ngồi Lý Công Uin - vj vua diu tiên của một wigu đại được đánh giálà “mỡ đầu công việc xây dựng đắt nước bước vào qui mô lớn, đặt nén ting vững chắc và toàn điện cho sự phát triển của dân tộc và của q gia phong kiến độc lập".
Nhà Lý cũng là một triều đại rat coi trọng nông nghiệp. Dp dé trị thủy đã trực tiếp ảnh hưởng. đến quyển lgi của quốc gia. không thé phó mặc cho sự tự phát của din chúng.
Nhưng: cũng mãi đến năm 1077 triều đình mới đứng ra chủ trương đắp những con dé qui mô. Theo Việt sử lược, thi năm ấy nhà Lý cho dip dé sông Như Nguyệt (Sông Clu) dài 67. Sang đến đồi Trần đã cho đắp thêm theo từng tuyển sông chính từ đầu nguồn ra đến biển, tôn cao đắp to những đoạn đã có, đắp thêm những đoạn nỗi, ải tao một số tuyến vòng véo bắt hợp lý. Vé cơ bản những tuyế để đó ân giống như ngày nay, nhất là tuyển đê sông Hồng và sông Cầu.
VỀ kỹ thuật dip đê thi kỳ này là một bước nhảy vot, tao nên thé nước chay thuận hon, mặt khác cũng phải có những tiến bộ kỹ thuật nhất định mới có thể xác định được tuyển đê, chiều cao dé từng đoạn cho phủ hợp với đường mặt nước lữ. "Ngoài việc dip dé, nhà Trần còn rit coi trọng công tác hộ đê phỏng lụt, đặt thành trách. nhiệm cho chính quyên các cấp. "Năm nào cũng vậy, vào thắng su, thắng bay (mia 10) các viên đề sứ phai đích thân đi twin hành, thấy chỗ nào non phải tu bổ ngay, hỄ biếng nhắc không làm tròn phận sự dé đến nỗi tri din cư, ngập lúa mạ, sẽ tủy tội nặng nhẹ ma khiển phạt triều đại phong kiến sau này dựa vào đó ma tiếp te phát tiễn h hồng để điều đã 6 và phát triển tiếp lên.
Theo sách Đại Nam thực lục thi đưới triều Nguyễn năm đó vua còn cho dip bay đoạn dé mới ở Bắc Bộ "Đến thing 9 năm 1809, triều Nguyễn đã ban hành diều lệ về để điều ở Bắc Bộ với các quy định rất chặt chế vẻ việc kiểm tra, phòng chống lũ và gia cố hệ thông dé điều hàng Thời kỳ Pháp thuộc, với tư cách là người thống tị, thực dân Pháp nhận thức ngay được tim quan trọng và kinh tế chính tị của Bắc Ki. Vĩ và ngay từ những ngày đầu thiết lập nền đô hộ, chính quyền Pháp cũng rất chú trong đến tỉnh hình dé điều và tr thuỷ của Việt Nam. Trong quá trình cai trị của mình, chính qu én Pháp đã gặp phải không ít những thiệt hại do thiên tai, lũ lụt gây ra, đặc biệt trận lũ lịch sử năm 1915 gây thiệt hại rat nghiêm trọng về người va nha cửa. Sau trận lụt lich sử đó, trước áp lực của dư luận, chính quyền thực din mới nghiên cứu thực hiện một ké hoạch đắp đề Bắc Bộ trơng đối quy mô, trong đó có nhiễu biện pháp ma ngày nay chúng ta vẫn còn nhắc tới như: Tái sinh rừng thượng nguồn để chậm lũ: xây dụng hỗ chứa ở thượng nguồn để sắt lũ đắp đ cao hơn mite lũ đặc bit; củng cổ để hiện ti và tôn cao đến mức an toàn tuyệt đối Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với địa hình địa mạo.
phong phú, các triển núi phía Tây, Tây Bắc, phía Đông bao bọc bởi biển, hệ thống sông ngôi đây đặc. Các khu din cư, thành phố va vũng nông nghiệp thường phát triển đọc theo các vùng ven sông và thường chịu ảnh hưởng từ các yếu tố lũ và ng ngập lụt. Hệ thống dé đọc theo các nhánh sông là giải pháp phòng chống lũ đã được. công cha ta sử dung từ lâu đời, để bảo vệ các vùng dân cư ven sông vả toàn bộ ving châu thé trước nguy cơ ngập lụt Hệ ống đê điều Việt Nam hiện nay có khoảng 7.700 km dé, trong đó hơn 5.000 km là để sông, còn lạ là để biển với khối lượng đắt óc tin là 520 triệu mÌ.
Sự hình thành ệ thống để thể hiện sự đông góp, cổ gắng của nhân dân trong suốt nỉ thể kỹ qua Mac dù tại một số nơi đê côn chưa đảm bảo tính ổn định cao đối với lũ lớn. tuy vậy vai trò bảo vệ của các tuyến dé sông hay hệ thống để biển là rit to lớn và không thé phủ định, Hàng năm, hệ thống để này đều được đầu tư cũng cổ, nâng cắp, đặc biệt sau khi xảy rũ lũ lớn, dé sông đã từng bước củng cố vững chắc đáp ứng được yêu cầu chồng lũ đặt ra của từng thời kỳ 1. Vai tro của hệ thống đê điều đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam Hệ thông đê điều của nước ta đồng vai trồ quan trong trong vige bảo vệ tai sản, mia mảng, tính mạng của người dân, giúp góp phần phát trién kinh tế xã hội của đắt nước. 'Việt Nam 6 lượng mưa và dòng chảy khá phong phú.
Lượng mưa trung bình hing năm của cả nước dat gin 2000mm. Việt Nam có mật độ sông ngòi cao, có khoảng 2360 con sông với chiều dài từ 10km trở lên và hầu hết sông ngòi đều chảy ra biển đông. Tổng lượng dòng chảy trung bình vào khoảng 830 tỷ mÌ/năm, trong 46 có 62% là từ lãnh thổ bên ngoài. Phân bổ mưa và dòng chảy năm không đều, 75% lượng mưa và dòng chảy tập trung vào 3-4 tháng mùa mưa.
Mùa mưa lại trùng vào mùa mưa bão nên Việt Nam luôn phải đối mặt với nhiều thiên tai về nước, đặc biệt là lũ lục. Việt Nam với đặc thù là nước có đường bờ biển dài hơn 2000km vì thé tim quan trọng của các hệ thống dé sông và đê biển là cực kỳ quan trọng. Hàng năm Việt Nam đón nhận hon 10 cơn bão từ biển đông, cùng với các hiện tượng thời Xhiến mực nước các sông thường ding lên rất nhanh. Bão vào Việt Nam ngày cảng mạnh, sóng vào từ các cơn bão thường rất lớn vì vậy đối với Việt Nam hệ thống đê điều là cực kỳ quan trọng dé bảo vệ tính mạng và tai sản của người dân và của nhà Bởi vậy, ngay từ khi hỏa bình lập lại, Dang và Chính phủ luôn quan tâm đầu tư cho hệ thống công tinh để điều với đội ngũ cin bộ đã được đảo tạo bai bản, tâm huyết với nghề.
Công tác quản lý hệ thống để điều, biện pháp phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai trong thời gian qua cũng được quan tâm đặc biệt, nhiều hệ thống đ điều được xây mới gdp phần giám số người chế vã thiệt hi kinh tế Ngoài ra hệ thống dé điều còn góp phần hình thành mang lưới giao thông quan trọng, giúp tăng lưu lượng giao thông. Mục tiêu ban tự trình để điều chỉ nhằm ngăn và chống lũ, bảo vệ các khu vực được hưởng lợi từ công trinh mang lại. Nhưng, 4do qua trình phát iển xã hội, công trình để điều từng bước được đầu tr để cải tạo, nàng cấp đáp ứng nhu cầu khai thác sử dụng tổng hợp. Công trình để không còn chỉ là công tỉnh bằng đất thực hiện mục tiêu phòng chống lũ mà còn là công trình giao thông phát tiễn kinh tế vùng Việc phân loại dé do Chính phủ quy định dựa vào các tiêu chí như: Số dân được bio tằm quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh tí ủng: diện tích và phạm vỉ địa giới hành chính; độ ng dân cư so với mực nước lũ thiết kế; lưu lượng lũ thiết kế.
Có nhiều cách phân loại hệ thống đê điều Phân loại theo nhiệm vụ của dé điều: Hệ thống để điều hiện nay được chia làm nhiều. loại tương ứng với từng nhiệm vụ ở từng khu vực khác nhau: ~ Đề đi là hệ thống công trình bao gdm để, kề bảo vệ để, cổng qua dé và công trình phú tơi = Để sông là để ngăn nước lũ của sông: ~ Dé biển là dé ngăn nước biển; Dé cửa sông là đê chuyển tếp giữa đề sông với đê biển hoặc ba biển; ~ ê bao là đê bảo vệ cho một khu vực riêng biệt, - Dé bối là đê bảo vệ cho một khu vực nằm ở phía sông của đê sông: ~ Để chuyên dùng là để bảo vệ cho một loại đối tượng riêng biệt, Phân loại đề điều theo cắp đê : Có 5 cấp dé (cấp 1, II, II, IV, V). Việc phân cấp đề do. “Chính phủ quy định đựa theo các tiêu chí sau ~ Số din được dé bảo vệ; - Tâm quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh xã hội: - Đặc điểm lũ, bao của từng vũng; - Diện tích và phạm vi địa giới hành chính; = Độ ngập sâu trung bình của các khu dân ex so với mực nước 1 thi - Lưu lượng l thiết kế 1.
Hệ thống đề sông Việt Nam Để sông của Việt Nam không nổi liền nhan mà tạo thành đấy theo hệ thông các com sông Hg thống để ở đồng bằng sông Hồng bao gồm hệ thống để sông Hồng và hệ thống để sông Thái Bình, đây là hệ thống đề sông có quy mô lớn nhắt nước ta với tổng chiều dải khoảng 2. Nhìn chung, dé có chiều cao phổ biến từ 5 + 8 mé có nơi cao tối 11 mt, Trong đó đề thuộc hệ thống sông Hồng bao gồm 18 tuyỂn với tổng chiều di khoảng 1.314 km đọc theo các sông: Ba, Thao, Lô, Phó Day, Hồng, Đuống, Luge, Trà Lý, Dio, Ninh Cơ và sông Diy, được chia thành: ~ Đề cấp đặc biệt (48 hữu sông Hồng thuộc nội thành Hà Nội)là 37,09km - Đề cắp 11a 3882 km. ~ Đề cấp II là 376,9 km và để cấp HH là 510/9 km Đề thuộc hệ thống sông Thái Bình bao gồm 27 tuyến với tổng chiều dai khoảng 698 kem đọc theo các sông: Công, Cầu, Thương, Lục Nam, Thai Bình, Kinh Thầy, Lai Vu, CALS, Văn Ue, Lach Tray, Hóa, Cắm, Bạch Đẳng, Tam Bạc, Nam, Đá Bạch và song Chanh, được chia thành = Để cắp 1473.9 km - BE cấp 1 148.