CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CỦA ĐỘI NGŨ NHÂN VIÊN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về năng lực 1. Khái niệm Năng lực làm việc được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Trước kia, năng lực được xem như là kiến thức, khả năng và kỹ năng (KSA hay ASK) 1do nhà tuyển dụng yêu cầu hoặc công việc thực hiện thành công trong hoàn cảnh cụ thể.
Hơn nữa, năng lực cũng được định nghĩa là sự kết hợp không những kiến thức, khả năng, kỹ năng mà còn những yếu tố khác. Và ngày nay, cách tiếp cận này xem ra phù hợp hơn trong môi trường cạnh tranh toàn cầu. Trong bất cứ hoạt động nào của con người, để mang lại hiệu quả mong muốn, con người cần phải có một số phẩm chất tâm lý cần thiết và tổ hợp những phẩm chất này được gọi là năng lực. Theo quan điểm của Tâm lý học Mác, năng lực của con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ.
Như chúng ta đã biết, nội dung và tính chất của hoạt động được quy định bởi nội dung và tính chất của đối tượng của nó. Tuỳ thuộc vào nội dung và tính chất của đối tượng mà hoạt động đòi hỏi ở chủ thể những yêu cầu xác định. Nói một cách khác thì mỗi một hoạt động khác nhau, với tính chất và mức độ khác nhau sẽ đòi hỏi ở cá nhân những thuộc tính tâm lý (điều kiện cho hoạt động có hiệu quả) nhất định phù hợp với nó. Như vậy, khi nói đến năng lực cần phải hiểu năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ.) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt 1 KSA hay ASK: Knowledge, Skill và Attitude Nguyễn Hữu Long - Lớp QTKD 4 Viện Kinh tế & Quản lý Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội động đó đạt được kết quả mong muốn.
Do đó chúng ta có thể định nghĩa năng lực như sau: "Năng lực là sự tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao”. Như trên đã phân tích, năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói đến năng lực thuộc về một hoạt động cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị, năng lực giảng dạy của hoạt động giảng dạy. Như vậy có thể định nghĩa năng lực nghề nghiệp như sau: "Năng lực nghề nghiệp là sự tương ứng giữa những thuộc tính tâm, sinh lý của con người với những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra. Nếu không có sự tương ứng này thì con người không thể theo đuổi nghề được" [Nguồn: Nguyễn Hữu Lâm - Mô hình năng lực trong giáo dục, đào tạo và phát triển].
Ở mỗi một nghề nghiệp khác nhau sẽ có những yêu cầu cụ thể khác nhau, nhưng tựu trung lại theo tác giả Mạc Văn Trang thì năng lực nghề nghiệp được cấu thành bởi 3 thành tố sau: (1). Tri thức chuyên môn; (2). Kỹ năng hành nghề; (3). Thái độ đối với nghề.
Năng lực nói chung và năng lực nghề nghiệp nói riêng không có sẵn như một số nhà Tâm lý học tư sản quan niệm mà nó được hình thành và phát triển qua hoạt động học tập, lao động và trong hoạt động nghề nghiệp. Chúng ta có thể khẳng định rằng học hỏi và lao động không mệt mỏi là con đường phát triển năng lực nghề nghiệp của mỗi cá nhân. Đặc điểm Để nắm được cơ bản các dấu hiệu khi nghiên cứu bản chất của năng lực ta cần phải xem xét trên một số đặc điểm sau: - Năng lực con người bao giờ cũng có mầm mống bẩm sinh tuỳ thuộc vào sự tổ chức của hệ thống thần kinh trung ương, nhưng nó chỉ được phát triển trong quá Nguyễn Hữu Long - Lớp QTKD 5 Viện Kinh tế & Quản lý Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội trình hoạt động phát triển của con người, trong xã hội có bao nhiêu hình thức hoạt động của con người thì cũng có bấy nhiêu loại năng lực, có người có năng lực về điện, có người có năng lực về lái máy bay, có người có năng lực về thể thao .; - Năng lực là sự khác biệt tâm lý của cá nhân người này khác người kia. Nói cách khác nếu một sự việc thể hiện rõ tính chất mà ai cũng như ai thì không thể nói về năng lực; - Năng lực chỉ là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả việc thực hiện một hoạt động nào đó chứ không phải bất kỳ những sự khác nhau cá biệt chung chung nào; - Khái niệm năng lực không liên quan đến những kiến thức kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành ở một người nào đó.
Năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các kiến thức kỹ năng, kỹ xảo trở nên dễ đàng hơn; - Năng lực của người lãnh đạo quản lý chính là năng lực tổ chức, Lê Nin đã vạch ra đầy đủ cấu trúc của năng lực tổ chức chỉ ra những thuộc tính cần thiết cho người cán bộ tổ chức là bất cứ người lãnh đạo nào cũng cần phải có: “Sự minh mẫn và tài sắp xếp công việc”, “sự hiểu biết mọi người” - tính cởi mở hay là năng lực thâm nhập vào các nhóm người, sự sắc sảo về trí tuệ và óc tháo vát thực tiễn, các phẩm chất ý chí, khả năng hiểu biết mọi người và kỹ năng tiếp xúc với con người. Do đó khi xem xét kết quả công việc của một người cần phân tích rõ những yếu tố đã làm cho cá nhân hoàn thành công việc, người ta không chỉ xem cá nhân đó làm gì, kết quả ra sao mà còn xem làm như thế nào chính năng lực thể hiện ở chỗ người ta làm tốn ít thời gian, ít sức lực của cải vật chất mà kết quả lại tốt. Cần phân biệt năng lực với trí thức, kỹ năng, kỹ xảo. Trí thức là những hiểu biết thu nhân được từ sách vở, từ học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc sống của mình.
Kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kiến thức thu lượm vào thức tế để tiến hành một hoạt động nào đó. Kỹ xảo là những kỹ năng được lắp đi lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục cho phép con người không phải tập trung nhiều ý thức và việc mình đang làm. Nguyễn Hữu Long - Lớp QTKD 6 Viện Kinh tế & Quản lý Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 1. Các mô hình và phương pháp đánh giá năng lực 1.
Các mô hình đánh giá năng lực Từ hiểu biết về năng lực như vậy, ta có thể thấy các nhà nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng những mô hình năng lực khác nhau trong tiếp cận của mình, về cơ bản bao gồm: - Những mô hình dựa trên cơ sở tính cách và hành vi cá nhân của cá nhân theo đuổi cách xác định “con người cần phải như thế nào để thực hiện được các vai trò của mình”; - Những mô hình dựa trên cơ sở các kết quả và tiêu chuẩn đầu ra theo đuổi việc xác định con người “cần phải đạt được những gì ở nơi làm việc”; - Những mô hình dựa trên cơ sở các kiến thức hiểu biết và các kỹ năng được đòi hỏi theo đuổi việc xác định “con người cần phải có những kiến thức và kỹ năng gì” để thực hiện tốt vai trò của mình. Trong ba nhóm mô hình nêu trên thì mô hình tiếp cận với sản phẩm đầu ra được các nhà nghiên cứu và thực hành trên thế giới rất ủng hộ rất. Vì vậy, năng lực được hiểu là một tập hợp các kiến thức, thái độ, và kỹ năng hoặc cách chiến lược tư duy mà tập hợp này là cốt lõi và quan trọng cho việc tạo ra những sản phẩm đầu ra quan trọng (McLagan, 1989). Tác giả cũng đồng tình và sử dụng cách hiểu này để triển khai các nội dung nghiên cứu trong chương 2.
Cách tiếp cận năng lực hành vi cá nhân Trong cách tiếp cận năng lực hành vi cá nhân, năng lực nhân viên sẽ được đánh giá theo năng lực hành vi thực tế tại nơi làm việc. Năng lực được định nghĩa có liên quan với tính cách cá nhân như đặc điểm, kiến thức, kỹ năng và động lực làm việc tốt hơn (Stuart and Linsay, 1977). Nguyễn Hữu Long - Lớp QTKD 7 Viện Kinh tế & Quản lý Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Các nghiên cứu điển hình về phương pháp tiếp cận phụ thuộc vào các nhà nghiên cứu hiện tại bao gồm Boyatzis, 1982; Schroder, 1989; Spencer and Spencer, 1993… Tất cả những nghiên cứu đó bao gồm cả việc đo lường khả năng thực hiện công việc và đo lường năng lực làm việc. Mô hình Boyatzis Boyatzis đã triển khai công việc nghiên cứu của mình bằng cách tái phân tích dữ liệu gốc từ một số công trình nghiên cứu năng lực với nhân viên và quản lý.
Ông cũng đã nhận biết được năng lực mà những quản lý cao cấp, nhân viên xuất sắc trong các bộ phận chức năng của tổ chức. Theo Boyatzis, năng lực làm việc là một đặc điểm cơ bản của một người mà trong đó có thể là động lực, đặc điểm, bề ngoài của một hình ảnh cá nhân hoặc vai trò xã hội hoặc bản thân kiến thức mà người đó sử dụng. Ông tập trung vào yếu tố con người trong công việc nhưng nhấn mạnh vào sự độc lập của môi trường tổ chức hiệu quả. Đặc biệt là ông đã phân biệt được hai mức độ năng lực đó là năng lực cơ sở và năng lực cao cấp.
Năng lực cơ sở là năng lực theo tính cách giống như kiến thức chung, kỹ năng, đặc điểm, động lực, hình ảnh cá nhân, vai trò xã hội. Năng lực cao cấp được minh chứng bằng kết quả thực hiện công việc cao của một quản lý. Trong phần nghiên cứu này, Boyatzis sử dụng kỹ thuật phỏng vấn hành vi. Ông đã xác định được 12 loại năng lực gồm 6 mảng và 7 loại năng lực cơ sở.