Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 1. Những nghiên cứu có liên quan đến hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực nghề nghiệp 1. Ở nước ngoài Các nghiên cứu về hoạt động dạy học Từ thời cổ đại, vấn đề dạy học đã được nhiều nhà triết học đồng thời là nhà giáo dục ở cả phương Tây và phương Đông đề cập đến.
Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XIV, vấn đề dạy học và hoạt động dạy học mới được nhiều nhà giáo dục quan tâm, như: J. Kômenxki, Pétxtalôdi, Kerschenteiner,. trong đó nổi bật là J. Trong cuốn “Những cơ sở lý luận dạy học” nhà giáo dục Êxipôp B.P (1977) quan tâm hoạt động dạy học phát huy tính tích cực của của người học.
Trong “Phối hợp các hình thức tổ chức dạy học có lợi cho người học” [35, tr76], ông đã chỉ rõ sự khác biệt giữa cách thức tổ chức hoạt động dạy học ở trường trung học Xô Viết và phương Tây như sau: Các cách thức tổ chức hoạt động dạy học ở trường trung học Xô Viết về nguyên tắc khác với các cách thức áp dụng trong nhà trường tư sản ở chỗ - các cách thức ấy được thực hiện luan an 14 trên cơ sở chủ nghĩa tập thể. Hoạt động dạy học ở nhà trường Liên Xô có nhiệm vụ tạo ra những điều kiện cho người học làm việc tích cực và đảm bảo phương pháp cá thể đối với mỗi người học, nhằm làm cho người học học tập có kết quả, phát triển đến mức tối đa những khả năng của họ. Các nghiên cứu về hoạt động dạy học nghiệp vụ Vấn đề nghiên cứu về dạy học nghiệp vụ và hoạt động dạy học nghiệp vụ chủ yếu được các tác giả nghiên cứu áp dụng trong ngành sư phạm. Các nghiên cứu tập trung về nghiệp vụ sư phạm và dạy học nghiệp vụ sư phạm đã công bố đều xem xét theo góc độ tiếp cận năng lực và phát triển nghề nghiệp cho giảng viên, coi nghiệp vụ sư phạm là một thành tố trong năng lực nghề nghiệp giảng viên và dạy học nghiệp vụ sư phạm là một phần trong toàn bộ tiến trình phát triển nghề nghiệp của giảng viên, được làm rõ hơn trong các công trình nghiên cứu của các tác giả, như: Linda Darling-Hammond (2010) [103], Thomas Olsson, Katarina Martensson, Torgny Roxa (2010) [109], Vinod Kumar Singh (2010) [118], nghiên cứu của Ngân hàng thế giới, báo cáo của OECD (OECD - tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) (2014) [108], … Các nghiên cứu đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nghiệp vụ với công việc, với một nghề nghiệp cụ thể, những nghiên cứu trên có giá trị là tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giúp làm rõ các nội dung, yêu cầu của hoạt động dạy học nghiệp vụ ở trường Đại học PCCC.
Các nghiên cứu về hoạt động dạy học theo định hướng PTNLNN Sự hình thành và phát triển của xu hướng tiếp cận năng lực người học trong giáo dục nói chung, dạy học nói riêng được hình thành, phát triển rộng khắp ở Mỹ vào những năm 1970, các tiếp cận năng lực trong giáo dục nghề nghiệp đã phát triển mạnh mẽ và trở thành một phong trào với những nấc thang mới trong những năm 1990 ở Anh, Úc, New Zealand, xứ Wales, … [101]. Các tiêu chuẩn năng lực được xây dựng nhằm đáp ứng các yêu cầu về chính trị, kinh tế và như là cách để chuẩn bị lực lượng lao động cho nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu. Các nhà hoạch định chính sách sử dụng mô hình năng lực như là phương tiện để xác định một cách rõ ràng và để gắn kết giữa những đòi hỏi của thực tiễn với các chương trình giáo dục và đào tạo. luan an 15 Trong tài liệu “Competency Based Education and Training” [100] (Giáo dục và đào tạo dựa trên năng lực thực hiện), John W Burke (1995) đã trình bày nguồn gốc của Giáo dục và đào tạo dựa trên năng lực thực hiện, quan niệm về năng lực thực hiện và tiêu chuẩn năng lực thực hiện, về vấn đề đánh giá dựa trên năng lực thực hiện và cải tiến chương trình đào tạo dựa trên năng lực thực hiện.
Trong cuốn “Designing Competence – Based Training” [115] (Thiết kế đào tạo dựa trên năng lực thực hiện), Shirley Fletcher (1997) đề cập các cơ sở khoa học của việc thiết lập các tiêu chuẩn đào tạo, các kỹ thuật phân tích nhu cầu người học và phân tích công việc, xây dựng mô đun dạy học và khung chương trình. Trong cuốn “Competency-based education and training” [101] (Giáo dục và đào tạo dựa trên năng lực), S. Kerka (2001), phân tích những ưu thế nổi bật của tiếp cận theo năng lực so với các cách tiếp cận khác trong dạy học đó là: thứ nhất, tiếp cận năng lực cho phép cá nhân hóa việc học, hướng đến để thực hiện những nhiệm vụ cụ thể; thứ hai, tiếp cận năng lực chú trọng vào kết quả đầu ra (outputs); thứ ba, tiếp cận năng lực tạo ra những linh hoạt trong việc đạt tới các kết quả đầu ra, theo những cách thức riêng phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của cá nhân; thứ tư, tiếp cận năng lực còn tạo khả năng cho việc xác định một cách rõ ràng những gì cần đạt được và những tiêu chuẩn cho việc đo lường các thành quả học tập của người học. Việc chú trọng vào kết quả đầu ra và những tiêu chuẩn đo lường khách quan của những năng lực cần thiết để tạo ra các kết quả này là điểm được các nhà hoạch định chính sách giáo dục – đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đặc biệt quan tâm nhấn mạnh.
Nhìn chung, số lượng và lĩnh vực nghiên cứu của các tác giả cũng rất đa dạng từ việc nghiên cứu bối cảnh của đào tạo theo phát triển năng lực, phát triển chương trình, tổ chức đào tạo đến đánh giá và chứng nhận năng lực nghề nghiệp cho người được đào tạo; những công trình này có giá trị cả về lý luận và thực tiễn. Luận án cần tiếp thu, chọn lọc để xác định vấn đề nghiên cứu tiếp theo về tổ chức hoạt động dạy học trong nhà trường nói chung và tổ chức luan an 16 hoạt động dạy học nghiệp vụ ở trường Đại học PCCC nói riêng. Ở trong nước Các nghiên cứu về hoạt động dạy học Vấn đề hoạt động dạy học cũng đã được đề cập nhiều trong các tác phẩm của các nhà chính trị, quân sự, nhà thơ lỗi lạc dưới thời phong kiến như: Nguyễn Trãi, Chu Văn An… Bằng việc kế thừa tư tưởng giáo dục tiên tiến và vận dụng sáng tạo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng các tư tưởng giáo dục tiến bộ trên thế giới vào thực tiễn Việt Nam, những thập kỷ gần đây nhiều nhà khoa học đã có các công trình nghiên cứu về lý luận dạy học, hoạt động dạy học. Về dạy học và hoạt động dạy học trong trường đại học, các cấp học về các nội hàm khác nhau của hoạt động dạy học.
đã được nghiên cứu rất nhiều trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học giáo dục với nhiều góc độ khoa học khác nhau. Các công trình đã đề cập mang tính khái quát, có ý nghĩa lý luận về hoạt động dạy học. Đó là, hoạt động dạy học do nhà giáo và nhà trường tổ chức và quyết định quy mô, chất lượng, tính chất sư phạm. Đây là môi trường hoạt động của người học, nên hoạt động dạy học là một trong những thành tố trọng yếu của quá trình dạy học.
Trong cuốn “Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học” [31] của tác giả Đỗ Ngọc Đạt (1997), theo tiếp cận hệ thống thì vai trò chủ đạo của giảng viên (định hướng, tổ chức, điều khiển các hoạt động và trực tiếp khi hoạt động trên lớp) luôn có ý nghĩa đặc biệt đối với việc bảo đảm chất lượng của học sinh trong học tập. Vai trò chủ động, tích cực, năng động của học sinh trong quá trình học tập có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển trí tuệ, lĩnh hội kiến thức và hoàn thiện nhân cách của bản thân, là chủ thể sáng tạo. Vì vậy, giảng dạy và học tập là hai mặt của một quá trình bổ sung cho nhau [31, tr. Còn theo tiếp cận cấu trúc quá trình dạy học, hệ thống cấu trúc này có ba nhân tố chủ yếu: Nội dung dạy học; Hoạt động dạy; Hoạt động học [31].
Trong cuốn “Giáo dục học hiện đại” [88] tác giả Thái Duy Tuyên (2001), luan an 17 khi nghiên cứu về lý luận chung của hoạt động dạy học đã đề cập đến những phương pháp luận chung khi tiếp cận hoạt động dạy học. Qua đó, tác giả đưa ra quan điểm đổi mới phương pháp dạy học, nhất là sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy người học. Trong cuốn “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” [34] tác giả Trần Khánh Đức (2014), cho rằng: học có hai chức năng kép là thu nhận thông tin và tự điều khiển quá trình nhận thức của người học; còn dạy cũng có hai chức năng kép đó là truyền đạt thông tin và điều khiển quá trình nhận thức cho người học. Theo quan niệm hiện đại khi triển khai một hoạt động dạy học người dạy phải biết lựa chọn phương thức chuyển tải sao cho đưa đến cho người học không chỉ kiến thức mà tạo điều kiện cho họ tái tạo lại, ứng dụng và phát triển được các kiến thức đó.
Tác giả đã luận giải những vấn đề về giáo dục và phát triển nguồn nhân lực ở nước ta trong thế kỷ XXI, đồng thời đưa ra một số giải pháp điều chỉnh cơ cấu đào tạo nhân lực là cơ sở để nhà quản lý tổ chức hoạt động dạy học cho phù hợp với thực tế và nhu của mỗi địa phương, của ngành và của đất nước. Trong cuốn “Giáo dục học - tập 1” [67] tác giả Trần Thị Tuyết Oanh (2015), khi xem xét quá trình dạy học ở một thời điểm nhất định nó bao gồm những thành tố như: mục đích dạy học; nội dung dạy học; phương pháp, phương tiện dạy học; hình thức tổ chức dạy học; giảng viên; học sinh; … Và quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản trong quá trình dạy học – hoạt động dạy và hoạt động học [67, tr.