Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CỦA CÁN BỘ CẤP XÃ 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài - Cán bộ Từ cán bộ được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Về cơ bản, từ cán bộ bao hàm nghĩa chính của nó là bộ khung, là nòng cốt, là chỉ huy. Quan niệm một cách chung nhất, cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức [22, tr.
Cũng như hiện tượng chung của ngôn ngữ, từ cán bộ khi du nhập vào nước ta đã được "bản địa hóa" theo thực tiễn tâm lý, văn hóa dân tộc nên đã biến đổi không còn nguyên nghĩa gốc. Xung quanh khái niệm cán bộ vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Trong từ điển tiếng Việt, cán bộ được định nghĩa: Cán bộ là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, đoàn thể, người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ. "Ở nước ta, theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tất cả những người thoát ly, làm việc trong bộ máy chính quyền, Đảng, đoàn thể, quân đội.
Trong quan niệm hành chính, cán bộ được coi là những người có mức lương từ cán sự (cũ) trở lên, để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn cán sự" [21, tr. Trong tác phẩm sửa đổi lối làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người viết: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo c 6 cho Đảng, cho Chính phủ rõ để đặt chính sách cho đúng". Hồ Chí Minh cũng khẳng định "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém" [18, tr.
Như vậy, theo quan niệm chung nhất "Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng tới tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức" [21, tr. - Cán bộ cấp xã Khái niệm cán bộ cấp xã được quy định tại khoản 3, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức như sau: “Cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Từ khái niệm trên, đối tượng là cán bộ cấp xã bao gồm những người đảm nhiệm những chức vụ sau: Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy cấp xã, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở cấp xã (Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ; Chủ tịch Hội Nông dân; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh). Cũng theo khái niệm này thì cán bộ cấp xã hình thành thông qua con đường bầu cử chứ không có cán bộ cấp xã hình thành theo con đường khác.
Theo Điều 3, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP (nay đã có nghị định số 29/2013/NĐ-CP ngày 8/4/2013 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 92/2009/NĐ-CP) của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, cán bộ cấp xã được quy định và bao gồm các chức danh sau: c 7 a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; d) Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. - Năng lực Năng lực là một khái niệm chỉ mức độ, khả năng, kết quả và hiệu quả hoạt động của con người. Năng lực không chỉ căn cứ vào tiềm năng, khả năng hoạt động của con người mà còn chủ yếu dựa vào kết quả, thành tích công tác, sự đóng góp và cống hiến của họ cho sự phát triển của đất nước, xã hội. Theo Từ điển Tiếng Việt và Từ điển Triết học, năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó.
Khái niệm năng lực được dùng theo hai nghĩa khác nhau: Theo nghĩa hẹp, năng lực để phân biệt với phẩm chất - hai thành tố cơ bản của nhân cách. Theo nghĩa rộng, năng lực bao gồm cả phẩm chất đạo đức vì trong con người đức (tổng hợp các phẩm chất) là cái gốc của tài (năng lực), giữa chúng thường thống nhất chặt chẽ với nhau, tạo tiền đề và điều kiện cho nhau phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dùng khái niệm năng lực với nghĩa rộng khi nhấn mạnh sự nghiệp cách mạng nước ta cần có những con người có nhân cách toàn diện, có đầy đủ cả đức lẫn tài - vừa "hồng" vừa "chuyên". Người nói, "kiến thiết nước nhà cần có nhân tài hay còn gọi là người tài đức - kẻ hiền năng" [14, tr.
Đảng ta hiện nay cũng dùng khái niệm này theo nghĩa rộng khi nêu ra yêu cầu, nhiệm vụ "Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng" nói chung, của mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng. Năng lực, nói một cách ngắn gọn, "là sức mạnh, sức làm việc, sức giải quyết vấn đề, sức đảm đang một nhiệm vụ" [29, tr. c 8 Như vậy, năng lực là sự xã hội hóa tiềm năng, khả năng của con người. Năng lực không chỉ là tiềm năng, khả năng của con người mà còn là mức độ làm việc và đóng góp của họ cho xã hội.
Kết quả và hiệu quả hoạt động là chỉ báo cơ bản và quan trọng nhất để đánh giá năng lực của con người. Năng lực không phải là những thuộc tính cá nhân riêng lẻ mà là một tổ hợp các thuộc tính cá nhân đáp ứng yêu cầu cao của hoạt động. Tổ hợp các thuộc tính đó cùng tồn tại song song và chúng có quan hệ và tác động lẫn nhau thống nhất với nhau theo yêu cầu nhất định. Theo nhà Tâm lý học người Nga Cơvaliốp: "Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính cá nhân con người đáp ứng những nhu cầu của hoạt động và bảo đảm cho hoạt động có kết quả cao" [5, tr.
Mỗi con người có thể tích hợp nhiều năng lực tiềm ẩn, những năng lực đó được bộc lộ ra hay không tùy thuộc vào những điều kiện chủ quan hay khách quan. Đối với những người có tài năng đặc biệt và thiên tài, năng lực của họ được phát triển và bộc lộ mạnh mẽ khiến họ đạt đến đỉnh cao ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Năng lực vừa mang tính bẩm sinh có sẵn vừa là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động thực tiễn của con người.Mác cho rằng: Đến chủ nghĩa cộng sản con người làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Đó chính là lúc con người từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do.
Theo Hồ Chí Minh "Năng lực con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập mà có" [14, tr. Vì thế, năng lực không chỉ là tư chất bẩm sinh thuần túy vốn có của con người, mà là kết quả của sự phối hợp những tư chất bẩm sinh vốn có với sự rèn luyện, tu dưỡng, học tập thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Người cán bộ lãnh đạo nói chung, cán bộ nói riêng dù ở cấp nào cũng phải có năng lực nhất định. Trong đó năng lực nắm bắt chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và năng lực tổ chức thực hiện là hai nhân tố quan trọng nhất tạo nên tài năng của mỗi người.
Hai yếu tố này có mối quan hệ chặt c 9 chẽ với nhau, không thể tách rời nhau, cái này hỗ trợ cho cái kia phát triển. Không có năng lực nắm bắt chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước thì không thể nào có khả năng khai phá, sáng tạo và vận dụng đúng đắn, linh hoạt. Trái lại chỉ có năng lực nắm bắt, năng lực tư duy mà không có năng lực tổ chức thực hiện thì năng lực tư duy dần dần bị sơ cứng, giáo điều, thoát ly thực tiễn, thoát ly cuộc sống, dễ rơi vào chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí. Hơn nữa cấp xã là cấp trực tiếp, cấp cuối cùng triển khai và vận động, tổ chức nhân dân thực thi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Đội ngũ cán bộ cấp xã phải có năng lực toàn diện trên tất cả các lĩnh vực mới đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Do vậy, ngoài những yếu tố trên, cán bộ cấp xã còn phải có năng lực sáng tạo, tính quyết đoán, năng lực làm việc với mọi người. - Lãnh đạo Lãnh đạo là một phạm trù chính trị học. Trong khoa học chính trị, lãnh đạo là sự dẫn dắt xã hội bằng chính trị và đạo đức của người đứng đầu; là một chức năng cơ bản của đảng cầm quyền, lãnh tụ quốc gia, nhằm đưa đất nước tới các mục tiêu nhất định bằng cương lĩnh, đường lối chính trị, các chiến lược phát triển, công tác tổ chức - cán bộ.
Chủ thể lãnh đạo là cá nhân, tổ chức có quyền lực cao nhất trong một hệ thống chính trị, thể chế. Chủ thể lãnh đạo có thẩm quyền cao hơn, lớn hơn các chủ thể quản lý. Trong khoa học quản lý, khái niệm lãnh đạo được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa hẹp, "lãnh đạo là một chức năng của quản lý, cùng các chức năng có tính nghề nghiệp khác là hoạch định (dự báo lập kế hoạch), chức năng tổ chức (nhân lực, vật lực, tài lực) và chức năng kiểm tra, giám sát" [5, tr.