Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nội dung rèn luyện năng lực dạy học cho sinh viên ngành sư phạm Sinh học trong quá trình TTSP ở trường Phổ thông. Chương 2: Đề xuất nội dung rèn luyện năng lực dạy học cho sinh viên ngành sư phạm Sinh học trong quá trình TTSP ở trường Phổ thông. Chương 3: Khảo sát tính khả thi của nội dung rèn luyện năng lực dạy học cho sinh viên trong quá trình TTSP. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Năng lực, năng lực nghề nghiệp, năng lực sư phạm và Năng lực dạy học 1. Năng lực Khái niệm “năng lực” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “competentia”. Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo ERIC Thesaurus: “Năng lực: cá nhân thể hiện khả năng thực hiện, tức là, có được các kiến thức, kĩ năng và những đặc điểm nhân cách cần thiết để đáp ứng được những yêu cầu hoặc đòi hỏi cụ thể của từng tình huống” (12/10/1979).
Tác giả Vũ Dũng trong Từ điển Tâm lý học (2000), định nghĩa: “năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”. Hay tác giả John Erpenbeck, cho rằng: “năng lực lấy tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được hiện thực hóa qua chủ định”.Leônchiev khẳng định, năng lực là “đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”. Phạm Minh Hạc cho rằng năng lực là “tổ hợp đặc điểm tâm lí của một con người/nhân cách. Tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích, tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong quá trình nghiên cứu về năng lực học tập, tác giả Xavier Togiers đã quan niệm: “năng lực là một khái niệm tích hợp các kĩ năng (tập hợp trật tự các kĩ năng/hoạt động) cho phép nhận biết tình huống và có sự đáp ứng tình huống đó tương đối tự nhiên và thích hợp (tác động lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết vấn đề do tình huống này đặt ra)”.Rogiers, việc thực hiện một năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kí năng trong một tình huống có ý nghĩa. Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung trong đề tài “Giải pháp đổi mới đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên đại học sư phạm đáp ứng yêu cầu giáo dục phổ thông trong thời kì mới” (2014), khẳng định: Năng lực là sự tích hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ và kinh nghiệm cá nhân cho phép thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân”[12]. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài bàn về năng lực của sinh viên trong trường sư phạm, chúng tôi lấy quan niệm về năng lực của tác giả Nguyễn Thị Kim Dung làm điểm tựa cho việc triển khai nghiên cứu, cụ thể là: Năng lực là sự tích hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ và kinh nghiệm cá nhân cho phép thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân. Năng lực nghề nghiệp giáo viên Trong tâm lý học, năng lực được chia thành nhiều loại khác nhau.
Theo đó, những năng lực đảm bảo thành công cho hoạt động nghề nghiệp được gọi là những năng lực nghề nghiệp. Và như vậy, có thể nói rằng, có bao nhiêu loại hình nghề nghiệp thì có bấy nhiêu loại năng lực nghề nghiệp Theo ERIC Thesaurus: “Năng lực giáo viên: Kiến thức rõ ràng, sâu sắc và các kĩ năng cần thiết để thực hiện vai trò của người giáo viên” Một giáo viên có năng lực là người biết tổ chức hoạt động của nhóm học sinh, quan tâm đến sự tiến bộ của các em; tổ chức hoạt động học tập hướng đến mục tiêu đặt ra; biết 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đào sâu một số nội dung; biết giao tiếp với các đồng nghiệp; biết tự đặt câu hỏi về việc mình làm và biết đánh giá chất lượng công việc của bản thân. Những vấn đề này, giáo viên có thể đã được học tập cả về mặt lý thuyết, nhưng có thể không biết áp dụng vào thực tế nghề nghiệp. Có năng lực có nghĩa là biết làm.
Tác giả World Bank (2005) đã đưa ra định nghĩa như sau về năng lực giáo viên: Một năng lực hoặc kỹ năng dạy học là khả năng huy động nhiều nguồn lực nhận thức để xử lý một loại tình huống dạy học đặc biệt. Thay vì liên quan đến việc dạy một nội dung hoặc kiến thức đặc biệt, các kỹ năng và năng lực dạy học gắn kết và kết hợp các nguồn lực nhận thức phù hợp với tình huống xảy ra. Theo tác giả Nguyễn Thị Kim Dung trong đề tài “Giải pháp đổi mới đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên đại học sư phạm đáp ứng yêu cầu giáo dục phổ thông trong thời kì mới” (2014), năng lực giảng dạy của người giáo viên có liên quan đến khả năng giảng dạy tốt, và năng lực giáo viên là những kiến thức, kỹ năng và thái độ giúp cho việc đáp ứng thỏa mãn những yêu cầu xã hội và nghề nghiệp đối với vai trò giảng dạy và đem đến quá trình học tập tốt. Như vậy, năng lực nghề nghiệp giáo viên được hiểu là những kiến thức, kỹ năng, thái độ giúp cho việc đáp ứng thỏa mãn những yêu cầu xã hội và nghề nghiệp đối với vai trò giảng dạy đem đến quá trình học tập tốt cho người học.
Với quan niệm đó về năng lực nghề nghiệp giáo viên thì năng lực nghề nghiệp giáo viên sẽ bao gồm 2 nhóm năng lực chính: năng lực khoa học chuyên ngành và năng lực sư phạm. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tập trung làm rõ năng lực sư phạm. - Năng lực sư phạm: Để làm rõ được khái niệm năng lực sư phạm chúng ta cần phải hiểu rõ nghiệp vụ sư phạm là gì? Khái niệm “Nghiệp vụ”: theo các từ điển ở nước ta hiện nay được định nghĩa là “công việc chuyên môn của một nghề” [19]. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thuật ngữ “sư phạm” được hiểu là: sự khuôn thước mẫu mực của người thầy giáo; người thầy giáo là người khuôn thước, mẫu mực (dưới góc độ là một loại hình hoạt động thì “sư phạm” còn được hiểu là hoạt động dạy học) [19].
Từ đây có thể suy luận rằng, nghiệp vụ sư phạm là công việc chuyên môn của nghề giáo viên (nghề dạy học – giáo dục). Vậy nghiệp vụ sư phạm được hiểu là những kỹ năng nghề nghiệp thiết yếu của người giáo viên nhằm thực hiện quá trình dạy học – giáo dục học sinh. Theo Từ điển Giáo dục học, “trình độ nghiệp vụ sư phạm” được định nghĩa như sau: “Trình độ nghiệp vụ sư phạm, tổng số vốn kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm thu nhận được trong quá trình học tập và hoạt động giáo dục của mỗi người và được thể hiện bằng kết quả dạy học và rèn luyện phẩm chất đạo đức của người học qua từng giai đoạn” [19]. Điều này cho thấy khi nói đến trình độ NVSP là một cách nói tương đồng với năng lực về nghiệp vụ sư phạm, bởi vì trình độ NVSP không phải chỉ là vốn kiến thức, kỹ năng thu nhận được trong quá trình học, mà còn phải thể hiện bằng kết quả dạy học – giáo dục – nghĩa là phải làm được nghề.
Như vậy có thể coi trình độ NVSP là một cách nói khác của năng lực NVSP và năng lực sư phạm chính là hình chiếu của hoạt động sư phạm. Theo tác giả Nguyễn Thị Kim Dung trong đề tài “Giải pháp đổi mới đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên đại học sư phạm đáp ứng yêu cầu giáo dục phổ thông trong thời kì mới” (2014): Năng lực sư phạm là sự tích hợp các kiến thức, kĩ năng, giá trị nghề nghiệp cho phép thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc lĩnh vực nghề nghiệp giáo viên, đem đến kết quả DH-GD tốt [12]. Như vậy, năng lực sư phạm có thể hiểu là tổng hòa những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp được thực hiện một cách có trách nhiệm và hiệu quả các công việc chuyên môn trong lĩnh vực nghề nghiệp giáo viên nhằm đem đến kết quả DH-GD tốt. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ta có sơ đồ cấu trúc năng lực nghề nghiệp giáo viên như sau: Sơ đồ1.1: Tổng quát năng lực nghề nghiệp giáo viên Nhìn vào sơ đồ trên ta có thể thấy rằng năng lực năng lực sư phạm là một trong những năng lực cấu thành nên năng lực nghề nghiệp giáo viên và năng lực dạy học cùng với năng lực giáo dục và năng lực phát triển nghề nghiệp là những năng lực rất quan trọng của năng lực sư phạm.
Quan điểm năng lực dạy học Với quan niệm năng lực sư phạm là hình chiếu của hoạt động sư phạm thì năng lực dạy học cũng là hình chiếu của hoạt động dạy học. Theo tác giả Vũ Xuân Hùng: “năng lực dạy học là kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết được kết hợp nhuần nhuyễn, không tách rời để thực hiện các nhiệm vụ công việc dạy học cụ thể theo chuẩn đặt ra, trong những điều kiện nhất định” [22]. Từ những quan điểm trên về năng lực sư phạm, năng lực dạy học chúng ta có thể hiểu: năng lực dạy học là những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp được tích hợp và thực hiện một cách trách nhiệm và hiệu quả các công việc trong hoạt động dạy học nhằm đem đến kết quả học tập tốt. Theo Quy định chuẩn nghề nghiệp GV THCS, GV THPT (ban hành kèm theo Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT, với tiêu chuẩn 3: Năng lực dạy học, bao gồm các tiêu chí: 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xây dựng kế hoạch dạy học; Đảm bảo kiến thức môn học; Đảm bảo chương trình môn học; Vận dụng các phương pháp dạy học; Sử dụng các phương tiện dạy học; Xây dựng môi trường học tập; Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh; Quản lý hồ sơ dạy học [30].