Chương I: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương II: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp 10 Chương III: Năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng may mặc sang thị trường EU của Công ty TNHH Thiên Sơn Hưng Yên Chương IV: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng may mặc sang thị trường EU của công ty TNHH Thiên Sơn Hưng Yên 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về cạnh tranh Trong xã hội hiện đại ngày nay, cụm từ “cạnh tranh” được sử dụng ở rất nhiều phương diện, lĩnh vực khác nhau, từ chính trị, luật pháp và lĩnh vực kinh tế cũng không ngoại lệ. Chính vì vậy mà xuất hiện rất nhiều các khái niệm khác nhau cho thuật ngữ “cạnh tranh” này.
Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là “Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1, cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất. Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì: “Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có”.
Như vậy, thông qua các cách giải thích như trên, có thể hiểu rằng: Cạnh tranh là quá trình mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm đem lại lợi ích lớn nhất về phía mình. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia thị trường. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh cũng là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến. Trên thế giới, thuật ngữ này đã được rất nhiều nhà kinh tế, nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách… quan tâm nghiên cứu.
Tuy nhiên, cho đến hiện tại, khái niệm năng lực cạnh tranh vẫn chưa được định nghĩa một cách thống nhất. Có thể nói, năng lực cạnh tranh là một thuật ngữ có tính đa chiều, nếu nghiên cứu theo những góc độ tiếp cận khác nhau sẽ dẫn đến những quan niệm khác nhau. 12 Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ.
Quan điểm tổng hợp của Van duren, Martin và Westgren cũng nhận định năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước. Họ cho rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ được xác định dựa trên các chỉ số đánh giá năng lực bao gồm: năng suất lao động, chi phí đầu vào, tổng năng suất các yếu tố sản xuất, công nghệ, chi phí nghiên cứu và phát triển, chất lượng và tính khác biệt của sản phẩm. Theo quan điểm của Michael Porter (1990), năng lực cạnh tranh đề cập đến khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm chất lượng và năng suất vượt trội hơn so với đối thủ cạnh tranh. Đồng thời, doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh sẽ chiếm lĩnh được thị phần lớn hơn cũng như khả năng phát triển bền vững cho tổ chức và tạo ra thu nhập cao cho người lao động.
Michael Porter cũng nhận định, năng suất lao động là thước đo duy nhất để đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Khái niệm về năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm Trên thực tế, dù hoạt động thương mại quốc tế đã diễn ra trong một khoảng thời gian vô cùng dài, hoạt động xuất nhập khẩu đã trở thành một phần không thể thiếu trong việc phát triển kinh tế toàn thế giới. Tuy nhiên, cho đến nơi, vẫn chưa có một khái niệm, định nghĩa nào cụ thể và thống nhất về “năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm”. Tuy vậy, từ những phân tích bên trên, có thể hiểu rằng “năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm” là sự vượt trội của một sản phẩm nào đó so với sản phẩm thay thế đến từ một quốc gia khác, về mặt giá cả, chất lượng hay các yếu tố khác như thương hiệu, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm, sự độc đáo và khác biệt của sản phẩm… mà những yếu tố đó đáp ứng được những yêu cầu của thị trường nhập khẩu tại một thời điểm cố định nào đó.
Các hình thức năng lực cạnh tranh 2. Năng lực cạnh tranh quốc gia Theo Asia Development Outlook 2003, năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng cạnh tranh của một nước để sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được thử thách của thị trường quốc tế. Đồng thời, duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của công dân nước đó. Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của một nước để tạo ra việc sản xuất sản phẩm, phân phối sản phẩm và dịch vụ trong thương mại quốc tế, trong khi kiếm được thu nhập tăng lên từ nguồn lực của nó.
Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đưa ra nhận định về năng lực cạnh tranh quốc gia như sau : “Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của nền kinh tế quốc gia nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và đặc trưng kinh tế khác”. Năng lực cạnh tranh quốc gia phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng nguồn lực con người, tài nguyên về vốn của một quốc gia, bởi vì chính năng suất xác định mức sống bền vững thể hiện qua mức lương, tỷ suất lợi nhuận từ vốn bỏ ra, tỷ suất lợi nhuận thu được từ tài nguyên thiên nhiên. Cũng theo diễn đàn kinh tế thế giới WEF, năng lực cạnh tranh của quốc gia được đo bằng tám chỉ tiêu: mức độ mở của nền kinh tế, vai trò của Nhà nước, vai trò của thị trường tài chính, môi trường công nghệ, kết cấu hạ tầng, chất lượng quản trị kinh doanh, hiệu quả và tính linh hoạt của thị trường lao động, môi trường pháp lý. Từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh quốc gia là tập hợp những nhân tố tạo nên khả năng và lợi thế của quốc gia đó trong các lĩnh vực kinh tế nói riêng so với các quốc gia khác trên thế giới, phản ánh năng lực thu hút đầu tư để đạt được sự tăng trưởng kinh tế một cách bền vững, từ đó bảo đảm ổn định kinh tế – xã hội và nâng cao mức sống của người dân ở quốc gia đó.
Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Theo Asia Development Outlook 2003, năng lực cạnh tranh là khả năng của một công ty đứng vững trong kinh doanh và đạt được những kết quả mong đợi trên khía cạnh lợi nhuận, giá, tỷ suất sinh lời hay chất lượng sản phẩm và có năng lực trong việc khai thác các thị trường hiện tại và tạo ra thị trường mới. 14 Theo D’Cruz (1992), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp trong việc thiết kế, sản xuất và Marketing các sản phẩm vượt trội hơn so với các đối thủ cạnh tranh, xét cả về khía cạnh giá cả lẫn các khía cạnh phi giá. Michael Porter (1985) đã mô tả về lợi thế cạnh tranh như sau: “Lợi thế cạnh tranh đến từ các giá trị của doanh nghiệp có khả năng mang lại cho người mua những giá trị cao hơn chi phí tạo ra chúng. Giá trị là những gì người mua sẵn sàng chi trả, những mặt hàng có giá trị cao với việc đưa ra mức giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh cho những lợi ích tương tự hoặc mang lại những lợi ích riêng biệt bù đắp lại mức giá cao được đưa ra.
Có hai loại lợi thế cạnh tranh cơ bản: Dẫn đầu về chi phí và sự khác biệt. Nguyễn Bách Khoa (2004) trình bày trong bài viết “Phương pháp luận xác định năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của DN” được đăng trên tạp chí khoa học thương mại của trường Đại học Thương mại thì năng lực cạnh tranh của DN được hiểu là: “tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của sản phẩm của DN trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định”. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với các yếu tố về năng suất, sản phẩm, lợi thế cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được cấu thành và quyết định một phần bởi năng lực cạnh tranh của sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất.
Năng lực cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ Cho đến hiện nay, chưa có một định nghĩa chung nhất về năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ. Nhưng có thể thấy rằng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ có mối quan hệ mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau với năng lực cạnh tranh quốc gia và doanh nghiệp. Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp quyết định khả năng cạnh tranh của quốc gia. Đến lượt nó, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp lại được quyết định bởi khả năng cạnh tranh của sản phẩm mà doanh nghiệp đó kinh doanh.
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm lại 15 phụ thuộc vào chính sách của quốc gia, năng lực và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nhiều quan điểm cho rằng, khả năng cạnh tranh sản phẩm được hiểu là sự vượt trội (về các chỉ tiêu) so sánh với sản phẩm cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường.