PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP THEO TBT CỦA DOANH NGHIỆP NHỰA PHÍA NAM. CHƢƠNG III. VAI TRÒ CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU QUI TRÌNH ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP THEO TBT ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM NHỰA. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 14 z CHƢƠNG 1.1 TBT: Hàng rào kỹ thuật trong thƣơng mại Hàng rào kỹ thuật trong thƣơng mại là những biện pháp kỹ thuật cần thiết để bảo vệ ngƣời tiêu dùng trong nƣớc, lợi ích quốc gia, bảo hộ sản xuất trong nƣớc.
Hàng rào kỹ thuật là một loại hàng rào phi thuế quan. Hàng rào này liên quan tới việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhƣ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình đánh giá sự phù hợp chất lƣợng hàng hóa, các biện pháp nhằm đảm bảo quá trình sản xuất hàng hóa phải an toàn, vệ sinh, bảo vệ môi trƣờng. Hàng rào kỹ thuật là các rào cản hợp lý và hợp pháp, cần đƣợc duy trì ở mỗi quốc gia. Tuy nhiên, còn có những hàng rào kỹ thuật đƣợc dựng lên để hạn chế thƣơng mại của nƣớc khác hoặc mang tính phân biệt đối xử giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, giữa hàng hóa trong nƣớc hoặc nhập khẩu.
Để loại bỏ các rào cản không cần thiết trong thƣơng mại giữa các nƣớc thành viên, Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật trong thƣơng mại (gọi tắt là Hiệp định TBT) của WTO đƣợc xây dựng và thực thi. Theo Hiệp định TBT, hàng rào kỹ thuật đƣợc thể hiện dƣới các hình thức nhƣ tiêu chuẩn;văn bản quy phạm pháp luật về kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật (dƣới đây gọi chung là quy chuẩn kỹ thuật) và quy trình đánh giá sự phù hợp.2 Hiệp định TBT Với vai trò là một tổ chức xúc tiến thƣơng mại, WTO mong muốn các nƣớc thành viên thông qua Hiệp định này nhận thấy rõ tầm quan trọng của các tiêu chuẩn quốc tế và hệ thống đánh giá sự phù hợp trong việc tăng cƣờng hiệu quả sản xuất và tạo thuận lợi cho tiến trình thƣơng mại quốc tế. Ngoài việc mong muốn khuyến khích sự phát triển của các tiêu chuẩn quốc tế và các hệ thống đánh giá sự phù hợp Hiệp định còn đƣa ra các quy đinh nhằm đảm bảo rằng các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật và các thủ tục đánh giá sự phù hợp với các văn bản này không tạo ra các trở ngại không cần thiết cho thƣơng mại quốc tế. 15 z Hiệp định cũng thừa nhận sự đóng góp của tiêu chuẩn hóa quốc tế đối với việc chuyển giao công nghệ từ các nƣớc phát triển sang các nƣớc đang phát triển nhằm giúp các nƣớc đang phát triển giải quyết các khó khăn có thể gặp phải trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật và các quy trình đánh giá sự phù hợp.
Các nguyên tắc của Hiệp định TBT - Không phân biệt đối xử về các tiêu chuẩn, chất lƣợng hàng hoá: Hiệp định đòi hỏi các thành viên áp dụng quy chế tối huệ quốc và quy chế đối xử quốc gia khi đƣa ra các quy định quản lý kỹ thuật. Có nghĩa là, các quy định này phải đảm bảo có sự đối xử nhƣ nhau giữa các nƣớc thành viên và giữa hàng hoá sản xuất trong nƣớc và hàng nhập khẩu vào nƣớc mình. - Không cản trở thƣơng mại: Hiệp định TBT yêu cầu các nƣớc thành viên áp dụng tiêu chuẩn quốc tế nhƣ ngôn ngữ kỹ thuật thống nhất đối với tiêu chuẩn chất lƣợng hàng hoá. Điều này có nghĩa là, một khi tiêu chuẩn quốc tế đƣợc áp dụng thì không có hàng rào kỹ thuật đƣợc tạo ra đối với thƣơng mại giữa các nƣớc thành viên.
Nhƣng nhƣ vậy có bình đẳng hay không khi yêu cầu tất cả các nƣớc dù là đang phát triển hay đã phát triển đều phải áp dụng tiêu chuẩn quốc tế mới không cản trở thƣơng mại. Thực ra, Hiệp định TBT không bắt buộc các nƣớc phải áp dụng tiêu chuẩn quốc tế một cách nhƣ nhau (vì có trình độ phát triển khác nhau), điều mà Hiệp định quan tâm hơn chính là không cho phép các nƣớc đƣa ra yêu cầu cao hơn tiêu chuẩn quốc tế, nếu không chứng minh đƣợc việc đƣa ra nhƣ vậy là có căn cứ khoa học và là cần thiết vì những mục đích hợp pháp nhƣ bảo vệ an toàn, vệ sinh, môi trƣờng hay an ninh. Một nƣớc có thể áp dụng tiêu chuẩn hàng hoá thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế do khả năng công nghệ, trình độ quản lý và nhận thức chƣa đầy đủ của ngƣời tiêu dùng về chất lƣợng sản phẩm. Trong trƣờng hợp này, nƣớc đó cũng chỉ đƣợc đƣa ra yêu cầu tƣơng tự đối với hàng nhập khẩu, bằng không sẽ vi phạm nguyên tắc không phân biệt đối xử.
16 z Hiển nhiên, việc áp dụng tiêu chuẩn chất lƣợng hàng hoá dƣới mức tiêu chuẩn quốc tế trƣớc hết sẽ làm cho ngƣời tiêu dùng không đƣợc an toàn trong sử dụng hàng hoá, môi trƣờng dễ bị ô nhiễm hơn.; thứ đến là làm cho hàng hoá xuất khẩu của các nƣớc đang phát triển khó có khả năng cạnh tranh đƣợc trên thị trƣờng quốc tế. Nhƣ vậy, việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế là con đƣờng phải đi nếu muốn phát triển thƣơng mại và nâng cao đời sống nhân dân. - Công khai, minh bạch: Điều dễ hiểu chính là thông qua nguyên tắc này để thực thi và giám sát thực thi đối với hai nguyên tắc đã đề cập ở trên. Vì vậy mà Hiệp định TBT đƣa ra nhiều quy định để đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch này.
Ví dụ, trƣớc khi một thành viên muốn ban hành một quy định để quản lý tiêu chuẩn, chất lƣợng hay kỹ thuật đối với một hàng hoá nào đó có khả năng chứa đựng các yếu tố gây cản trở thƣơng mại hay phân biệt đối xử thì nƣớc đó phải thông báo cho các nƣớc khác biết về việc đó, trong một thời hạn nhất định trƣớc khi ban hành. Mục đích là để các nƣớc khác xem xét và góp ý kiến đối với dự thảo quy định đó. Và nếu các nƣớc cho rằng, việc ban hành quy định này là trái với nguyên tắc của Hiệp định TBT thì thành viên đó phải nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp. Việc công khai minh bạch không chỉ có lợi cho các thành viên khác, mà còn có lợi cho cả các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp trong nƣớc, vì quy định đƣa ra để áp dụng chung cho cả hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá sản xuất trong nƣớc.
Các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp trong nƣớc có quyền góp ý trƣớc khi một quy định quản lý ra đời, để đảm bảo lợi ích của mình với tƣ cách là một bên chịu ảnh hƣởng bởi quyết định quản lý đó. - Ngoài ra, Hiệp định TBT còn khuyến khích các nƣớc thành viên ký kết các thoả thuận thừa nhận lẫn nhau đối với kết quả thử nghiệm, chứng nhận, kiểm tra, giám định chất lƣợng hàng hoá. Việc ký các thoả thuận này sẽ mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp trong việc giảm chi phí và 17 z thời gian do không phải thử nghiệm lại, giám định lại chất lƣợng tại cảng của nƣớc nhập khẩu hàng hoá. Mặc dù chú trọng tới việc đảm bảo rằng các quy chuẩn kỹ thuật không đƣợc tạo ra những rào cản không cần thiết cho thƣơng mại, song Hiệp định TBT cũng thừa nhận rằng các quốc gia có quyền xây dựng các cơ chế bảo hộ con ngƣời, động thực vật hay bảo vệ sức khoẻ và môi trƣờng thông qua các nhóm nghĩa vụ sau: - Đối xử với hàng hoá xuất khẩu của một nƣớc không kém ƣu đãi hơn so với cơ chế đối xử đối với hàng hoá sản xuất trong nƣớc (đối xử quốc gia) hoặc đối với hàng xuất khẩu của một nƣớc khác (đối xử tối huệ quốc).
- Khuyến khích các thành viên dựa trên các tiêu chuẩn hài hoà hoá (dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế). - Minh bạch trong quá trình xây dựng, áp dụng và thực hiện các tiêu chuẩn và chuẩn kỹ thuật. - Các yêu cầu về thủ tục liên quan tới việc thông báo cho WTO các vấn đề có liên quan tới TBT. Hiệp định TBT quy định rằng các thủ tục đánh giá sự phù hợp phải đƣợc “chuẩn bị, xây dựng và thông qua sao cho các nhà cung cấp các sản phẩm tƣơng tự có xuất xứ từ lãnh thổ nƣớc thành viên khác (là các nƣớc tham gia ký kết Hiệp định); qua đó các thành viên này đƣợc hƣởng các điều kiện không kém phần ƣu đãi hơn các điều kiện dành cho các nhà cung cấp các sản phẩm tƣơng tự đƣợc sản xuất trong nƣớc hoặc các sản phẩm tƣơng tự có xuất xứ từ bất kỳ nƣớc nào khác”.
Hiệp định cũng yêu cầu các thủ tục đó không đƣợc “chuẩn bị, thông qua hoặc áp dụng với mục đích hoặc với kết quả tạo ra các trở ngại không cần thiết cho thƣơng mại quốc tế.” Về mặt lý tƣởng, một chƣơng trình đánh giá sự phù hợp đƣợc tiến hành một cách thích đáng sẽ chỉ làm lợi, chứ không cản trở để hàng hoá đƣợc tự do lƣu thông trên thị trƣờng. Hiệp định TBT phân biệt tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Tiêu chuẩn là các quy trình, hệ thống, phƣơng thức, v. đƣợc thỏa thuận mà các nhà sản 18 z xuất tự nguyện đáp ứng để cho thấy các sản phẩm của mình đạt đƣợc một mức độ chất lƣợng hoặc tính năng sử dụng nào đó.
Khi tiêu chuẩn đƣợc thông qua hay sử dụng trong các quy định pháp luật, chúng đƣợc mang tên quy chuẩn kỹ thuật và theo đó việc áp dụng chúng trở thành bắt buộc đối với các hàng hóa sản xuất trong nƣớc và hàng nhập khẩu. Công nhận (hoạt động đánh giá sự phù hợp) là một cơ chế đƣợc quốc tế chấp thuận để thừa nhận năng lực của các phòng thí nghiệm hiệu chuẩn và thử nghiệm, các cơ quan chứng nhận sản phẩm, các cơ quan chứng nhận hệ thống chất lƣợng và các cơ quan giám định. Công nhận là cơ chế đảm bảo chất lƣợng của các dữ liệu thử nghiệm và hình thành nguyên tắc cũng nhƣ ý niệm về tính chuyên nghiệp hoá đƣợc quốc tế chấp thuận. Hoạt động này góp phần giảm thiểu các trƣờng hợp phải thử nghiệm lại và chứng nhận lại, giảm bớt chi phí và loại bỏ các rào cản phi thuế quan đối với thƣơng mại và khả năng chậm trễ trong việc tiếp cận thị trƣờng.