lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng: - Chƣơng 1: Những vấn đề chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thƣơng mại nhà nƣớc thuộc Bộ Công Thƣơng (Trƣờng hợp Công ty VILEXIM) - Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thƣơng mại nhà nƣớc thuộc Bộ Công Thƣơng (Trƣờng hợp Công ty VILEXIM) trong điều kiện Việt Nam hội nhập WTO 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Những vấn đề chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm Xu thế kinh tế chung của tất cả các quốc gia trên thế giới hiện nay là xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Đó là quá trình vừa hợp tác để phát triển, vừa đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt là đấu tranh của các nƣớc đang phát triển bảo vệ lợi ích của mình vì một trật tự thế giới công bằng, chống lại những áp đặt phi lý của các cƣờng quốc kinh tế, các công ty đa quốc gia.
Toàn cầu hoá là sự giao thoa, hội tụ tƣơng đối các giá trị và nguồn lực của các quốc gia, các nền kinh tế nhằm tạo ra sự đồng điệu và làm gia tăng nguồn của cải toàn cầu. Toàn cầu hoá đƣợc diễn ra trên diện rông, quy mô lớn và ảnh hƣởng tới mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội của mỗi quốc gia trong từng khu vực và toàn cầu. Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định “toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nƣớc, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy vừa hợp tác, vừa tăng sức ép cạch tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau… Đối với Việt Nam, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới đƣợc nâng lên một bƣớc mới, gắn với thực hiện các cam kết quốc tế, đòi hỏi Việt Nam phải nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế, tham gia có hiệu quả vào phân công lao đông quốc tế” (Văn kiện Đại hội IX). Đại hội X lần nữa khẳng định “Hội nhập 6 kinh tế quốc tế là yêu cầu khách quan; phải chủ động, có lộ trình phù hợp với bƣớc đi tích cực, vững chắc, không do dự chần chừ; nhƣng cũng không đƣợc nóng vội, giản đơn.
Phải tích cực mở rộng thị trƣờng bên ngoài để đẩy mạnh xuất khẩu, đồng thời phải chủ động mở cửa thị trƣờng trong nƣớc, kể cả thị trƣờng dịch vụ, để thu hút mạnh vốn đầu tƣ, công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến. từ bên ngoài, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong tiến trình mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới, phải biết phát huy lợi thế so sánh, tạo môi trƣờng cạnh tranh để phát triển. Bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi mỗi nƣớc và từng doanh nghiệp muốn giành đƣợc lợi thế trong kinh doanh, phát triển và có hiệu quả kinh tế thì cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh.
Theo nhƣ định nghĩa của Đại từ điển tiếng Việt do tác giả Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên (NXB Văn hoá- Thông tin, tr.258): “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình.” Cạnh tranh, theo Từ điển Thuật ngữ Kinh tế học (NXB Từ điển Bách khoa, Hà nội- 2001, tr.42), là “sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành đƣợc”. Trong Đại từ điển Kinh tế thị trƣờng (Viện Nghiên cứu và Phổ biến Tri thức Bách khoa, Hà Nội- 1998, tr. 247) cũng đƣa ra định nghĩa: “cạnh tranh hữu hiệu là một phƣơng thức thích ứng với thị trƣờng của xí nghiệp mà mục đích giành đƣợc hiệu quả hoạt động thị trƣờng làm cho ngƣời ta tƣơng đối thoả mãn nhằm đạt đƣợc lợi nhuận bình quan vừa đủ để có lợi cho việc kinh doanh bình thƣờng và thù lao cho những rủi ro trong việc đầu tƣ, đồng thời hoạt động của đơn vị sản xuất cũng đạt đƣợc hiệu suất cao, không có hiện tƣợng quá dƣ thừa về 7 khả năng sản xuất trong một thời gian dài, tính chất sản phẩm đạt trình độ hợp lý…” Theo Randall, năng lực cạnh tranh là năng lực giành đƣợc và duy trì thị phần trên thị trƣờng với lợi nhuận nhất định.
Dunning lập luận năng lực cạnh tranh là năng lực cung sản phẩm của chính doanh nghiệp trên các thị trƣờng khác nhau mà không phân biệt nơi bố trí sản xuất của doanh nghiệp đó. Fafchamps lại cho rằng năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là năng lực doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trƣờng, có nghĩa là doanh nghiệp nào có năng lực sản xuất ra sản phẩm có chất lƣợng tƣơng tự nhƣ sản phẩm của doanh nghiệp khác nhƣng với chi phí thấp hơn thì đƣợc coi là có năng lực cạnh tranh cao hơn. Một quan niệm khác cho rằng năng lực cạnh tranh là trình độ của các doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của thị trƣờng, đồng thời duy trì đƣợc mức thu nhập thực tế của mình. Hay Năng lực cạnh tranh là “khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hoá cùng loại trên cùng một thị trƣờng tiêu thụ.” Theo Phillip Lasser, năng lực cạnh tranh của một công ty trong một lĩnh vực đƣợc xác định bằng những thế mạnh mà công ty có hoặc huy động đƣợc để có thể cạnh tranh thắng lợi.
Có tác giả đƣa ra quan niệm: “Sức cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ trong việc sản xuất và cung ứng, vừa tối đa hoá lợi ích của mình vừa thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng cho thấy năng lực cạnh tranh đƣợc nâng cao. Nhƣng nếu tăng thị phần bằng cách chấp nhận thua lỗ hoặc mức hiệu quả thấp hơn chi phí cơ hội thì cũng có nghĩa là năng lực cạnh tranh thấp. Quan niệm này có 8 thể áp dụng đối với từng doanh nghiệp, một nền công nghiệp cũng nhƣ đối với một quốc gia trong cuộc cạnh tranh trên thị trƣờng thế giới hay khu vực. Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức OECD đã lựa chọn một định nghĩa cố gắng kết hợp cho cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia nhƣ sau: “Sức cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Năng lực cạnh tranh (còn gọi là sức cạnh tranh; theo tiếng Anh thuật ngữ này là: Competitive Power; theo tiếng Pháp là: Capacité de Concurrence), khả năng giành đƣợc thị phần lớn trƣớc các đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp (Từ điển thuật ngữ kinh tế học, 2001, NXB Từ điển Bách khoa Hà nội, trang 349). Theo định nghĩa này, tác giả có thể thống nhất bốn thuật ngữ hiện đang đƣợc sử dụng: năng lực cạnh tranh, sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh và tính cạnh tranh đều có nội dung tƣơng tự nhau và hiểu tên của chúng một cách nhất quán trong đề tài này là "năng lực cạnh tranh". Nhƣ vậy, trên thực tế đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các quan niệm đều đề cập đến hai khía cạnh cơ bản khi nói về cạnh tranh là chiếm lĩnh thị trƣờng và thu lợi nhuận cho nhà sản xuất, kinh doanh, trong đó mục tiêu cuối cùng là thu đƣợc lợi nhuận cao nhất.
Có thể nói cạnh tranh của doanh nghiệp là tập hợp những hành vi nhằm giành lấy những lợi thế để thực hiện đƣợc phƣơng án kinh doanh thu đƣợc lợi nhuận cao nhất trong những điều kiện khách quan cụ thể nhất định. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng hợp năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của chủ thể trong sản xuất kinh doanh hàng hoá với mức độ có thể đạt đƣợc hiệu quả cao nhất trong những điều kiện khách quan cụ thể nhất định. Các lý thuyết Để tạo dựng và phát triển năng lực cạnh tranh một cách có hiệu quả, cần phân định rõ năng lực cạnh tranh ở mỗi cấp độ khác nhau. Lý thuyết cạnh tranh và năng lực cạnh tranh đƣợc tiếp cận trên năm cấp độ: toàn cầu, quốc gia, ngành, doanh nghiệp, sản phẩm.
- Năng lực cạnh tranh của một quốc gia có thể đƣợc hiểu là năng lực của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt đƣợc và duy trì mức tăng trƣởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế tƣơng đối bền vững và đặc trƣng nền kinh tế khác. - Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành là khả năng của một ngành tồn tại và phát triển bền vững các đặc trƣng kinh tế, khi các quá trình kinh tế nội sinh thay đổi hoặc thay thế lẫn nhau. - Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp cũng đƣợc định nghĩa là khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và đƣợc đo bằng thị phần của sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp đó trên thị trƣờng. - Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là “sức mạnh” hoặc “tính vƣợt trội” của hàng hóa đó trên thị trƣờng, nó có thể thay thế hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp khác cung cấp để chiếm lấy vị trí thống lĩnh thị trƣờng tại cùng một thời điểm.
Đồng thời nó thỏa mãn yêu cầu của khách hàng về giá cả, chất lƣợng, số lƣợng, tính tiện dụng, độc đáo hay kiểu dáng, bao bì, thƣơng hiệu, các dịch vụ chăm sóc khách hàng trƣớc và sau bán hàng. nhờ đó thị phần mà nó chiếm lĩnh cao hơn so với thị phần của hàng hóa cùng loại trên cùng một thị trƣờng.