CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG VÊ NĂNG L ự c CẠNH TRANH TRONG DỊCH VỤ TÍN DỤNG CÁ NHÂN Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT DỊCH v ụ TÍN DỤNG CÁ NHÂN Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. C á c k h á i n iệm D ịch vụ Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2005, NXB Từ điển Bách Khoa, DV là “những hoạt động phục vụ nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt”. DV phát sinh là do nhu cầu phân công lao động xã hội.
Phân công lao động xã hội càng phát triến, nhu cầu càng đa dạng thì càng có nhiều loại DV như: các loại hình DV phục vụ hoạt động SXKD, loại hình DV phục vụ sinh hoạt công cộng (giáo dục, y tế, giải trí), DV cá nhân dưới hình thức: DV giúp việc, DV sửa chữa,. Tựu chung, theo khái niệm này thì quan niệm về DV là những hoạt động phục vụ. Trong lí luận Marketing: “DV được coi như là một hoạt động của chủ thế này cung cấp cho chủ thế kia, chúng có tính vô hình và không làm thay đổi quyền sở hữu” [1]. DV có thể được tiến hành nhưng không nhất thiết phải gắn liền với sản phâm vật chất.
Theo quan điếm truyền thống: Những gì không phải nuôi trồng, không phải sản xuất là DV. (Gồm các hoạt động: Khách sạn, giải trí, bảo hiểm, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, tài chính, ngân hàng, giao thông.) Theo cách hiêu phô biến: DV là một sản phấm mà đặc trưng của nó là tính vô hình. Hoạt động này giải quyết các mối quan hệ với KH hoặc với tài sản do KH sở hữu mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. Theo cách hiêu khác: DV có thế được coi là một hoạt động xã hội mà xảy ra trong mối quan hệ trực tiếp giữa KH và đại diện của công ty cung ứng DV.
5 Theo ISO 8402 (Quản lý chất lượng và đảm bảo chất lượng - Thuật ngữ và định nghĩa do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành, 1999): DV là kết quả tạo ra của quá trình tiếp xúc giữa người cung ứng và KH và các hoạt động nội bộ của người cung ứng đe đáp ứng nhu cầu của KH. Trong phạm trù kinh tế, có thể coi DV là sản phẩm của lao động xã hội, được mua bán trao đối trên thị trường. Nền sản xuất xã hội được chia thành hai lĩnh vực lớn, đó là sản xuất hàng hoá và sản xuất DV. Quá trình tạo ra DV chính là quá trình tương tác giữa ba yếu tổ cơ bản gồm KH - người tiếp nhận DV; cơ sở vật chất; và nhân viên phục vụ.
Ba yếu tố vừa kể trên có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống mà trong đó DV là kết quả của quá trình tương tác trực tiếp giữa KH, nhân viên cung ứng DV và cơ sở vật chất. D ịc h v ụ n g â n h à n g Ngành NH là ngành kinh doanh đặc biệt, ngành này không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội nên được xếp vào ngành DV. Xét trên góc độ Marketing: DV NHlà những hoạt động, đặc điểm, tính năng, công dụng do NHtạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu của KH, tổ chức tài chính. DVNH là những DV thuộc lĩnh vực tài chính, do NH cung cấp cho KH của mình [8], DV NHcó the hiếu là sử dụng các phương tiện, công cụ vô hình dùng đế chuyến tải các loại hình hoạt động kinh doanh NH bằng các phương tiện công cụ hữu hình (các loại máy móc, thiết bị, công nghệ) [3].
Qua quá trình phát triển và sự tăng trưởng không ngừng về tổ chức hoạt động theo thời gian của NHTM cũng như sự thay đối mang tính cách mạng của khoa học công nghệ, DVNH được chia thành hai loại: DVNH truyền thống và DVNH hiện đại. DVNH truyền thống: Là những DVNH đã có lịch sử lâu đời, sự ra đời và phát triến của các DV này gắn liền với sự ra đời và phát triển của ngân hàng. Đây là những DV cơ bản, là hoạt động chính đem lại nguồn thu nhập 6 lớn cho NH, quyết định đến sự tồn tại của NH. Các DVNH truyền thống như: nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, DVTD,.
DVNH hiện đại: là những DV thuộc lĩnh vực tài chính, TD do NH cung cấp cho KH nhưng lại dựa trên sự tiến bộ và phát triển của khoa học công nghệ thông tin hiện đại, có sự đa dạng hoá cung cấp nhiều tiện ích cho KH, thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của KH. Ví dụ: DV chuyển tiền, DVNH điện tử (ATM, internetbanking, homebanking,.) Tín dụng Cũng có thế hiếu TD là sự chuyến nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định sẽ thu về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Tín dụng ngân hàng TDNH được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay là NH và bên đi vay, trong đó NH chuyến giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho NH khi đến hạn. Dịch vụ tín dụng cá nhân DVTD cá nhân là hình thức TD mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho KH cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sổng hoặc phục vụ SXKD dưới hình thức hộ kinh doanh cá thê.
Vai trò của dịch vụ tín dụng cá nhân 1. Đối với KH cá nhân Thứ nhất, Góp phần đáp ứng nhu cầu tài chính cho chi tiêu, tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình Ở một chừng mực nào đó, TD cá nhân giúp cho các KH linh hoạt hơn 7 trong việc giải quyết vấn đề thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Thay vì phải tích lũy đủ vốn ở hiện tại để thực hiện kế hoạch của bản thân, người tiêu dùng sẽ khéo léo phối hợp giữa thoả mãn nhu cầu ở hiện tại vói khả năng thanh toán ở hiện tại và tương lai. Nghĩa là họ sẽ tiêu dùng trước bằng cách lựa chọn phương án vay vốn NH rồi tích lũy và hoàn trả sau cho ngân hàng.
Vai trò này hết sức có ý nghĩa đối với những trường hợp mua sắm các hàng hoá thiết yếu có giá trị cao như nhà cửa, xe hơi. hay chi tiêu cấp bách như ốm đau, bệnh tật, ma chay, cưới hỏi. Trong những trường hợp này, thay vì bể tắc hoặc phải tìm đến những khoản vay nóng ngoài NH với lãi suất cao, thì KH có thể an tâm vay vốn từ NH với lãi suất và thời hạn vay hợp lý. Thứ hai, Góp phần đáp úng nhu cầu vốn cho kinh doanh cá thể hay hộ gia đình trong nền kinh tế TD cá nhân còn là kênh các NHTM tài trợ vốn cho hoạt động SXKD của các hộ gia đình giúp họ có điều kiện đế mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh trong ngành.
Với điều kiện cấp TD đơn giản hơn đối với KH doanh nghiệp, TD cá nhân phù hợp với hình thức kinh doanh nhỏ lẻ, phù hợp với đặc tính và tập quán kinh doanh của đối tượng này. Đối với NHTM Thứ nhất, Góp phần gia tăng thu nhập, uy tín và thương hiệu cho NHTM Thông qua việc cung ứng các sản phẩm DVTD cá nhân, NHTM sẽ thu được các khoản thu nhập. Trong giai đoạn hiện nay, TD vẫn là nguồn thu nhập chiếm tỷ trọng lớn trong các NHTM. Ngoài ra, do có đối tượng KH rất rộng nên việc phát triển TD cá nhân sẽ giúp hình ảnh thương hiệu của NH được phổ biến rộng khắp.
Thông qua TD cá nhân, ngoài việc cấp TD cho KH còn giúp NHthuận lợi trong bán chéo sản pham DVNH bán lẻ như: tiền gửi tiết kiệm, giao dịch thanh toán, chuyển lương qua tài khoản, phát hành - thanh toán thẻ, DV NH điện tử. Khả năng 8 cung cấp gói sản phẩm DV tài chính cá nhân đồng bộ thỏa mãn tối đa nhu cầu KH sẽ tạo nét khác biệt cho NH trong cạnh tranh với đối thủ, do đó góp phần nâng cao thương hiệu cho NH. Thứ hai, Góp phần phân tản rủi ro cho NH Nếu một NH chỉ tập trung cho vay các KH doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn, vì lý do nào đó mà hoạt động kinh doanh của các KH này gặp khó khăn gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do vậy, với nguyên tắc “tránh để tất cả trứng vào một rổ”, các NH phát triển TD cá nhân như một sự phân tán rủi ro vì với số lượng KH cá nhân đông, số tiền vay ít thì khi có một KH hoặc một số ít KH gặp rủi ro dẫn đến không có khả năng trả nợ thì ít gây ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của NH.
Đối vói nền kinh tế Thứ nhất, Góp phần tạo sự năng động cho các thành phần kinh tế TD cá nhân là kênh hỗ trợ vốn để dân chúng trang trải các chi phí phát sinh trong cuộc sống từ thỏa mãn nhu cầu thiết yếu cho đến nhu cầu xa xỉ với chi phí đắt đỏ, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Đe có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của KH, buộc các thành phần kinh tế phải đẩy mạnh sản xuất, do đó tạo nhiều công ăn việc làm, tạo ra những khác biệt tích cực giúp tăng khả năng cạnh tranh trước các đối thủ trong và ngoài nước trong thời kỳ hội nhập. Thứ hai, Góp phần tạo sự ổn định về mặt xã hội Là một phần của TD nói chung, TD cá nhân cũng có vai trò tích cực đối với xã hội. TD cá nhân góp phần khai thác triệt để các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội rồi lưu thông các nguồn vốn này một cách trôi chảy và hiệu quả, từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao.
TD cá nhân giúp kích cầu trong nền kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, 9 thúc đẩy sản xuất trong nước. Do đó thu hút nhiều lực lượng lao động tham gia xây dựng, sản xuất tạo công ăn việc làm, hướng đến các mục tiêu xã hội như xóa đói, giảm nghèo, tăng thu nhập, giảm tệ nạn xã hội góp phần ổn định trật tự xã hội. Các hình thức dịch vụ tín dụng cá nhân của Ngân hàng thương mại 1.