CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về năng lực cạnh tranh của NHTM 1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của NHTM Theo Mác: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam: “ Cạnh tranh trong kinh doanh là một hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung-cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhuận”.
Định nghĩa về cạnh tranh trên đây chỉ là định nghĩa tổng quát trên phạm vi quốc gia. Xét trên phương diện doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện khả năng và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ thu hút khách hàng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và là yếu tố bên trong mỗi doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh không chỉ được tính bằng các tiêu chí công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh. Ngân hàng thương mại bản chất là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ. 4 Từ những nhận định trên, có thể đưa ra khái niệm về năng lực cạnh tranh của NHTM như sau: “Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm củng cố và mở rộng thị phần, gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh. Đặc điểm cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Nếu coi tất cả ngân hàng là một chủ thể thì ngân hàng phải cạnh tranh với các tổ chức tài chính khác trên thị trường để huy động tiền gửi, cấp tín dụng hay cung cấp các dịch vụ phòng ngừa rủi ro.
Các tổ chức tài chính khác bao gồm: các công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng nhân dân,… Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì mức độ cạnh tranh của ngành ngân hàng với các tổ chức tài chính khác ngày càng khốc liệt. Nếu xét riêng trong ngành ngân hàng thì các ngân hàng sẽ phải cạnh tranh lẫn nhau về lãi suất, số lượng các dịch vụ cung ứng chất lượng dịch vụ và sự thuận tiện trong việc sử dụng dịch vụ của khách hàng. Vì hoạt động ngân hàng được coi là đặc biệt nên cạnh tranh trong ngân hàng mang những đặc điểm khác biệt so với các lĩnh vực khác như: * Cạnh tranh trong điều kiện chịu sự chi phối mạnh mẽ của các chính sách tài khóa, tiền tệ của Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, biến động mạnh theo các biến số kinh tế như lạm phát, lãi suất, chỉ số GDP. * Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng tác động mạnh mẽ đến các chủ thể khác trong nền kinh tế đặc biệt là các doanh nghiệp.
Cạnh tranh càng gay gắt thì chất lượng sản phẩm càng được nâng cao, ưu đãi cho các chủ thể khác càng được tăng lên, sự thuận tiện chính vì thế cũng được cải thiện. * Cạnh tranh không phải là để triệt tiêu nhau trên thương trường mà ngược lại ngân hàng còn có thể phát triển mạnh trên cơ sở nỗ lực ganh đua với các tổ chức tài chính và hệ thống ngân hàng lành mạnh. 5 * Cạnh tranh mang lại tính hợp tác đặc biệt trong các sản phẩm như dịch vụ thanh toán liên ngân hàng, ATM,… 1. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt nhu cầu của người tiêu dung, nâng cao tay nghề, cải thiện kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.
Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, chi phí sản xuất rẻ hơn để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng. Mục tiêu của doanh nghiệp nói chung và trong ngành ngân hàng nói riêng là mục tiêu lợi nhuận. Đứng trước thị trường hội nhập, số lượng doanh nghiệp trong nước không ngừng gia tăng, bên cạnh đó là việc mở cửa thị trường, giao lưu kinh tế giữa các nước, đặt ra yêu cầu với mỗi doanh nghiệp phải thấu hiểu và đáp ứng nhu cầu khách hàng. Vì vậy, không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh là một điều tất yếu khách quan để tăng lợi nhuận, giữ vững và nâng cao vị thế trên thị trường của doanh nghiệp, nếu không sẽ tự động bị đào thải.
Cạnh tranh là quy luật cơ bản và tất yếu của nền kinh tế thị trường. Cụ thể cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại là sự ganh đua về thị phần, nâng cao uy tín, số lượng khách hàng và gia tăng lợi nhuận. Ngoài ra, ngân hàng Việt Nam cũng phải đối mặt với sự phát triển của các công ty tài chính Fintech với dịch vụ đa dạng và giá cả cạnh tranh, hấp dẫn khách hàng. Vì vậy, để tiếp tục và tăng thị phần thì các NHTM Việt Nam, trong đó có VIB, cần phải nỗ lực để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Những chỉ tiêu đánh giá Năng lực cạnh tranh của NHTM 1. Chỉ tiêu định lượng a. Năng lực tài chính Năng lực tài chính giữ vai trò hết sức quan trọng trong các hoạt động ngân hàng của các NHTM. Đây là cơ sở để các NHTM phát triển thị trường, ra quyết định có nâng cao chất lượng và phát triển dịch vụ hay không và từ đó quyết định năng lực cạnh tranh của NHTM.
Hơn thế, năng lực tài chính còn là cơ sở giúp NHTM thực hiện tốt tất cả các biện pháp phòng ngừa rủi ro, đảm bảo an toàn vốn trong hoạt động, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại có thể xảy ra đối với NHTM. Năng lực tài chính được thể hiện qua một số tiêu chí sau: * Quy mô Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM. Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn cấp 1 (vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, lợi nhuận không chia) và vốn cấp 2 (giá trị tăng thêm của tài sản cố định, quỹ dự phòng chung, trái phiếu chuyển đổi,…). Ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh đặc thù, vì vậy nguồn vốn chủ sở hữu chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (chỉ từ 5% đến 10%) trong tổng nguồn vốn hoạt động.
Nguồn vốn này khá ổn định và luôn được bổ sung trong quá trình phát triển, Tuy nhiên nó lại đóng vai trò quan trọng như: - Cung cấp nguồn lực ban đầu để ngân hàng thành lập và đi vào hoạt động - Cung cấp nền tảng cho sự tăng trưởng và mở rộng - Tăng tính thanh khoản cho ngân hàng - Tạo niềm tin cho công chúng và sự đảm bảo với chủ nợ về sức mạnh tài chính của ngân hàng - Quyết định quy mô hoạt động của NHTM và xác định tỷ lệ an toàn * Mức độ an toàn (CAR) – Chất lượng tín dụng Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu CAR là một thước đô độ an toàn vốn của ngâ hàng, được tính theo tỷ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng. 7 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 CAR = x 100% 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó đ𝑖ề𝑢 𝑐ℎỉ𝑛ℎ 𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 Tỷ lệ này được dùng để bao vệ những người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính toàn cầu. Tỷ lệ này giúp xác định được khả năng của ngân hàng thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành. Hay nói cách khác, khi ngân hàng đảm bảo được tỷ lệ này tức là đã tạo ra một tấm đệm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ những người gửi tiền.
Theo Thông tư số 36/2014/TT-NHNN, tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng yêu cầu tối thiểu là 9%. Chất lượng tín dụng thể hiện thông qua tỷ lệ nợ xấu trong ngan hàng. Tỷ lệ nợ xấu thấp cho thấy ngân hàng có chất lượng tín dụng tốt và ngược lại, với tỷ lệ nợ xấu cao, ngân hàng cần phải nhanh chóng thay đổi chính sách tính dụng, xử lý để giảm thiểu nợ xấu. * Khả năng sinh lời Mức sinh lời được đánh giá là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng sau 1 năm tài chính.
Mức sinh lời được phản ánh thông qua một vài chỉ tiêu cơ bản sau: - Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROA= x 100% 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Đây là một thông số chủ yếu về tính hiệu quả quản lý, nó chỉ ra khả năng của hội đồng quản trị của ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. ROA thể hiện cứ mỗi đồng tài sản sẽ đem lại bao nhiêu lợi nhuận cho ngân hàng. Một số ngân hàng có chỉ số ROA càng cao càng chứng tỏ khả năng sinh lời càng lớn - Tỷ số thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝑅𝑂𝐸 = x 100% 𝑉𝐶𝑆𝐻 ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng, nó thể hiện thu nhập mà cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng. ROE thể hiện cứ 8 mỗi đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra sẽ đem lại bao nhiêu lợi nhuận cho ngân hàng.
Chỉ số này càng cao thì trong trương lai sẽ dễ dàng tăng vốn cổ tức, góp phần nâng cao vị thế của ngân hàng.