PHẦN MỞ ĐẦU 1- Sự cần thiết nghiên cứu đề tài. Thực hiện chủ trương nhất quán phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước nói chung và các DN nhà nước nói riêng, bởi đây là các DN đang SX-KD những hàng hoá quan trọng hàng đầu của nền kinh tế quốc dân. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 9 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định "Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và mục đích nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với quan hệ sản xuất mới, phù hợp trên cả mặt: sở hữu, quản lý, phân phối". Chính vì vậy, đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh của DN trong nền KTTT cần được tiếp tục đẩy mạnh, đó là yêu cầu hết sức quan trọng để làm tốt vai trò chủ đạo, làm đòn bẩy thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của đất nước và giải quyết những vấn đề xã hội.
Nó mở đường, hướng dẫn và hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển để làm cho lực lượng sản xuất phát triển và tạo lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật cho chế độ xã hội chủ nghĩa. Trước yêu cầu đổi mới trong quá trình hoạt động SX-KD, các DN đã bộc lộ những yếu kém và còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục tháo gỡ để DN thực hiện sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, góp phần làm cho thành phần kinh tế Nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua thực tiễn hoạt động của mình, trong điều kiện nền KTTT và sự hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới, các DN SX- KD xi măng thuộc VICEM cũng bộc lộ những tồn tại, hạn chế cần sớm được khắc phục, hoàn thiện để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của mình. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần VI, VII, VIII và IX, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 3, khoá IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DN Nhà nước, mỗi đơn vị SX-KD của VICEM phải quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng để tiếp tục đổi mới tổ chức quản lý kinh tế, phát triển ngày càng mạnh góp phần làm cho kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ có đủ sức mạnh vật chất để Nhà nước điều tiết, dẫn dắt nền KTTT theo định hướng xã hội chủ nghĩa có hiệu quả và bình đẳng.
Vì vậy, tôi chọn đề tài: "Nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM trong nền KTTT" 2- Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Nâng cao năng lực cạnh tranh nói chung được nhiều tổ chức, DN và các nhà khoa học lý luận, khoa học kinh tế nghiên cứu từ nhiều cách tiếp cận và nhằm những mục đích, đối tượng khác nhau và đã có nhiều bài viết dưới dạng trao đổi, nghiên cứu chuyên khảo,. đăng trên các tạp chí, thời báo,. Về lĩnh vực công nghiệp xi măng, có thể nêu ra một số bài viết nghiên cứu như sau: Hội nhập kinh tế quốc tế của xi măng Việt Nam; Phương thức tổ chức thị trường xi măng ở Việt Nam nói chung và của VICEM nói riêng; Chiến lược tiêu thụ sản phẩm xi măng của VICEM đến năm 2010 của Tiến sỹ Bùi Anh Thi; Thị trường, giá xi măng - bài học và giải pháp của Tiến sỹ Nguyễn Thanh Hải,.
Tuy nhiên, đối với vấn đề nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM dưới góc độ kinh tế chính trị một cách hoàn chỉnh chưa có tác giả nào nghiên cứu. 3- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.1- Mục đích nghiên cứu: - Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề cạnh tranh trong nền KTTT. - Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM Từ đó, đề xuất các giải pháp có tính khả thi để nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM trong nền KTTT.2- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: - Hệ thống hoá các lý thuyết cạnh tranh và những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của DN trong nền KTTT. Sự cần thiết khách quan phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM trong nền KTTT.
Nghiên cứu kinh nghiệm năng cao năng lực cạnh tranh của một số DN kinh doanh xi măng ở một số nước. - Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các DN SX- KD xi măng của VICEM trong những năm qua (thông qua Công ty XMHM). - Đề xuất những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM. 4- Đối tượng nghiên cứu.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM. Lấy ví dụ ở Công ty XMHM. 5- Phạm vi nghiên cứu. - Luận văn không có điều kiện đi sâu phân tích năng lực cạnh tranh của từng DN SX-KD xi măng thuộc VICEM, chỉ tập trung phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty XMHM từ năm 2002 đến nay để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường đối với sản phẩm xi măng của VICEM.
6- Phương pháp nghiên cứu. - Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó chú ý quan điểm lịch sử cụ thể, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp kết hợp lôgíc với lịch sử. - Phương pháp thống kê, so sánh và các phương pháp khác để làm rõ đối tượng nghiên cứu. - Tổng kết những tài liệu thực tiễn liên quan đến đối tượng nghiên cứu.
7- Những đóng góp mới của luận văn. - Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các DN trong nền KTTT. - Đánh giá năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM trong nền KTTT. - Phương hướng và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM trong nền KTTT.
8- Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD trong nền KTTT. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Xi măng Hoàng Mai. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM trong nền KTTT. CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DN SX-KD TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1- CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DN SX- KD TRONG NỀN KTTT.1- Một số lý thuyết về cạnh tranh trong nền KTTT.1- Khái niệm cạnh tranh.
Cạnh tranh là một xu thế tất yếu khách quan trong nền KTTT. Một mặt nó đào thải không thương tiếc các DN có mức chi phí cao, sản phẩm kém chất lượng. Mặt khác, nó buộc tất cả các DN không ngừng phấn đấu để giảm chi phí; hoàn thiện giá trị sử dụng của dịch vụ, tổ chức tốt khâu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ để tồn tại và phát triển trên thị trường. Chính ở mặt này, cạnh tranh đã buộc các DN phải tăng cường sức mạnh của mình, đồng thời phải thay đổi mối tương quan về “thế và lực” để tạo ra các ưu thế cạnh tranh.
Khi tham gia thị trường, bất kỳ một loại sản phẩm nào cũng đều phải chịu một sức ép cạnh tranh nhất định. Bởi vì, một loại sản phẩm có thể được sản xuất bởi nhiều DN khác nhau, do đó, số lượng sản phẩm được cung ứng ra thị trường rất lớn. Các DN phải cạnh tranh với nhau nhằm tiêu thụ hết sản phẩm của mình với mức lợi nhuận thu được lớn nhất. Trong cơ chế thị trường, các DN có quyền chủ động trong SX-KD, do vậy mức độ cạnh tranh giữa các DN ngày càng trở nên gay gắt.
Cạnh tranh tồn tại cùng với sự tồn tại của nền KTTT và cạnh tranh trở thành động lực phát triển cho nền sản xuất xã hội. Cạnh tranh có rất nhiều khái niệm khác nhau, tồn tại trong mọi lĩnh vực xã hội chứ không chỉ riêng trong kinh doanh. Khái niệm cạnh tranh xuất phát từ nền sản xuất hàng hóa, tuy nhiên cho đến nay cả về mặt lý luận và thực tiễn còn nhiều quan niệm khác nhau về phạm trù cạnh tranh. Nghiên cứu sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, Marx cũng như nhiều nhà kinh tế học khác đã rút ra được tính quy luật của nền sản xuất hàng hóa là cạnh tranh.
Sản xuất hàng hóa càng phát triển thì cạnh tranh càng quyết liệt và gay gắt giữa nhiều chủ thể kinh doanh, giữa các quốc gia, các ngành và các DN đều phải tạo lập cho mình ưu thế thuận lợi nhất để kinh doanh thành công, thu được lợi nhuận tối đa. Theo Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi nhất trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Trong khi đó, theo định nghĩa của Đại Từ điển Tiếng Việt: “Cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm dành phần hơn, phần thắng về mình” và theo từ điển Thuật ngữ Kinh tế học: “Cạnh tranh- sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia”. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng dành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể dành được và “chiến lược canh tranh” một khía cạnh của chiến lược thương mại, bao gồm việc DN phát triển các chính sách để đối phó và đánh bại các đối thủ của mình trong vấn đề cung cấp một sản phẩm nhất định.