Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty CPTVXD và ĐTPT Hạ Tầng Đô Thị trên thị trường Thanh Hóa Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh Công ty CPTVXD và ĐTPT Hạ Tầng Đô Thị trên thị trường Thanh Hóa đến năm 2020 và định hướng tới năm 2025 7 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh Theo cách tiếp cận dƣới góc độ kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa các chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa để từ đó thu lợi nhiều nhất cho mình. Khái niệm này đƣợc hiểu qua các khái niệm của Từ điển Thuật ngữ kinh doanh Anh – Việt (xuất bản năm 1992): “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trƣờng nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình ; là hoạt động tranh đua giữa nhiều ngƣời sản xuất hàng hóa, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng bị chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trƣờng có lợi nhất” và khái niệm theo Chu Văn Cấp (2003), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nƣớc ta trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế” NXB Chính trị quốc gia: “Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật và thủ đoạn để đạt đƣợc mục tiêu kinh tế của mình, thông thƣờng là chiếm lĩnh thị trƣờng, giành lấy khách hàng cũng nhƣ các điều kiện sản xuất, thị trƣờng có lợi nhất.
Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích. Đối với ngƣời sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với ngƣời tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi”. [8; Tr16] Trong nền kinh tế thị trƣờng ngoài các quy luật về cung cầu, giá trị, lƣu thông tiền tệ thì quy luật cạnh tranh là một quy luật vận hành của nền kinh tế thị trƣờng. Cạnh tranh luôn xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó hoạt động sản xuất kinh doanh là một lĩnh vực rất quan trọng.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ cạnh tranh và sự cạnh tranh cũng chia ra các cấp độ áp dụng, có thể ở cấp quốc gia, ngành, doanh nghiệp hay sản phẩm.Samuelson đã định nghĩa rằng: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường”. Tuy nhiên để chú trọng hơn đến tính chất cạnh tranh và cách thức cạnh tranh, theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm thì: “Cạnh tranh trên thương trường phải là cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà là cho khách hàng những giá trị tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ của mình”. [12] Còn theo Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa : “Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung-cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.”[14] Qua các quan niệm khác nhau về cạnh tranh của các tác giả ta thấy có những nhận xét khác nhau về cạnh tranh theo quan điểm của mỗi ngƣời, mỗi tổ chức nhƣng các quan niệm này đều tựa trung: Cạnh tranh chính là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh cùng một loại sản phẩm hàng hóa và cùng tiêu thụ trên một thị trường để đạt được mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận trong một khoảng thời gian nhất định. Các khái niệm liên quan đến cạnh tranh Khả năng cạnh tranh, chiến lƣợc cạnh tranh, năng lực năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh là những phạm trù đƣợc sử dụng khá phổ biến trong thực tiễn song dƣờng nhƣ vẫn còn những nhầm lẫn trong cách hiểu của nhiều ngƣời.
Vấn đề này là do xuất phát từ nghĩa của từ gốc trong từ điển tiếng Việt. Vì vậy chúng ta có thể nhận dạng và phân định rõ các phạm trù này qua hình vẽ sau: 9 Năng lực cạnh tranh Khả năng Lợi thế cạnh Chiến lƣợc cạnh tranh Cạnh tranh tranh Hình 1.1 Mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh với với chiến lược cạnh tranh, khả năng cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh. Nguồn: Bùi Thị Thanh (2012) Năng lực cạnh tranh, chiến lƣợc cạnh tranh, khả năng cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh có mối quan hệ tƣơng giao với nhau. Khả năng cạnh tranh là điều kiện cần, năng lực cạnh tranh là điều kiện đủ để doanh nghiệp có đƣợc lợi thế cạnh tranh, trong khi đó chiến lƣợc cạnh tranh chính là phƣơng thức, công cụ để chuyển hóa khả năng cạnh tranh thành lợi thế cạnh tranh (hình 1.
- Khái niệm về lợi thế cạnh tranh: Theo M.Porter, lợi thế cạnh tranh phát sinh từ các giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho ngƣời mua, giá trị này phải lớn hơn các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra. Theo Porter, có hai loại lợi thế cạnh tranh cơ bản mà doanh nghiệp có thể sở hữu là lợi thế chi phí thấp và lợi thế khác biệt hóa. Vì vậy để doanh nghiệp thu đƣợc lợi nhuận trên mức trung bình và đạt đƣợc các mục tiêu khác so với các đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp phải sử dụng các chiến lƣợc cạnh tranh (chiến lƣợc khác biệt hóa, chiến lƣợc chi phí và chiến lƣợc tập trung) để tạo lập và duy trì đƣợc lợi thế cạnh tranh bền vững. - Khái niệm về chiến lược cạnh tranh Theo Porter (1980), Chiến lƣợc cạnh tranh là sự tìm kiếm vị thế cạnh tranh thuận lợi trong ngành, đấu trƣờng chính của cạnh tranh, nhằm mục đích tạo lập một vị thế cạnh tranh thuận lợi và bền vững trƣớc những sức ép quyết định sự cạnh tranh trong ngành.
Vì vậy, chiến lược cạnh tranh là một quá trình tìm kiếm một vị thế thuận lợi, nhờ đó thu hút và lôi kéo được khách hàng đến với doanh 10 nghiệp. Bản chất của định vị chiến lược là lựa chọn những hoạt động khác biệt so với đối thủ để đem lại cho người mua những giá trị cao hơn so với đối thủ cạnh tranh. - Khả năng cạnh tranh: Khả năng cạnh tranh là điều kiện cần để các tổ chức có đƣợc lợi thế cạnh tranh trên thị trƣờng. Doanh nghiệp có thể xác định khả năng cạnh tranh của mình dựa vào các tiêu chí chủ yếu sau đây: Khả năng cạnh tranh về chất lƣợng và mức độ đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ; Khả năng cạnh tranh về giá cả; Khả năng thâm nhập thị trƣờng mới; Khả năng khuyến mãi; Khả năng về tài chính; Khả năng về R&D, Nguồn nhân lực; Công nghệ, Kênh phân phối.
- Khái niệm về năng lực cạnh tranh Để có lợi thế cạnh tranh, khả năng cạnh tranh chỉ là điều kiện cần, năng lực cạnh tranh mới là đƣợc kiện đủ. Thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” có nguồn gốc latinh là competere, tức là khả năng đƣơng đầu với tình trạng cạnh tranh, ganh đua và tranh dành với ngƣời khác. Tuy nhiên cho đến hiện nay khái niệm này dù đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu, chính trị gia và doanh nhân quan tâm song vẫn chƣa đƣợc sử dụng một cách thống nhất. Theo OECD, “Năng lực cạnh tranh” đƣợc hiểu là sức sản xuất ra thu nhập tƣơng đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho doanh nghiệp, các ngành, các địa phƣơng, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
Tuy nhiên để làm rõ hơn năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp tƣ vấn xây dựng thì cần phải có những quan điểm cụ thể hơn. Từ điển Thuật ngữ kinh tế học (NXB Từ điển Bách khoa Hà nội, 2001.Tr349) định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh (còn gọi là năng lực cạnh tranh; Tiếng Anh – Competitive Power; Tiếng Pháp – Capacite de Concurence) là khả năng giành đƣợc thị phần lớn trƣớc các đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị trƣờng”. Năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp hay quốc gia có thể hiện thực hóa các tiềm năng thành các lợi thế cạnh tranh. Nói cách khác, NLCT là khả năng của doanh nghiệp hay quốc gia có thể phát huy hết các điểm mạnh 11 để tận dụng cơ hội từ thị trường, giảm thiểu các điểm yếu và đối phó có hiệu quả với những thách thức, để tạo lập và duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững trong dài hạn.
- Các cấp độ của năng lực cạnh tranh Có 3 cấp độ của năng lực cạnh tranh nhƣ sau: Năng lực cạnh tranh của quốc gia, Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và Năng lực cạnh tranh của sản phẩm. + Năng lực cạnh tranh quốc gia: Theo Nguyễn Hữu Khải (2005) “Đối với một quốc gia, năng lực cạnh tranh là khả năng nâng cao mức sống một cách nhanh và bền vững, tức là đạt đƣợc mức tăng trƣởng kinh tế cao và ổn định, đƣợc đo lƣờng bằng mức độ thay đổi trong thu nhập bình quân đầu ngƣời qua các năm”. Vì vậy, NLCT quốc gia chính là khả năng quốc gia đó có thể giữ vững mức độ tăng trƣởng kinh tế, ổn định nền kinh tế vĩ mô nhằm góp phần nâng cao thu nhập và mọi mặt đời sống cho ngƣời dân. + Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Theo cách hiểu đơn giản nhất, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo Hill/Jones (2005): “Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng nắm vững thị phần nhất định với mức độ hiệu quả chấp nhận đƣợc, vì vậy khi thị phần tăng lên cho thấy năng lực cạnh tranh đƣợc năng cao”.
Qua khái niệm này cho thấy rằng năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp đó có thể bán đƣợc hàng nhanh chóng và nhiều hơn so với các đối thủ cạnh tranh trên một thị trƣờng cụ thể về một loại hàng hóa cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định. + Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Theo M.