Chương 1: Cơ sở lý luận về biện pháp nâng cao mức độ đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên trường THPT. - Chương 2: Thực trạng mức độ đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên các trường THPT thị xã Cao Bằng. - Chương 3: Biện pháp nâng cao mức độ đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên các trường THPT thị xã Cao Bằng. 10 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CHUẨN NGHỀ NGHIỆP CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỎ THÔNG 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò, vị trí của người thầy và tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực của người thầy nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước và xu thế của thời đại. Người dạy rằng: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Quan điểm này luôn là kim chỉ nam trong sự nghiệp “trồng người”. Bởi vậy, từ năm 1945, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, Bác Hồ đã quan tâm xây dựng một nền giáo dục toàn dân, chỉ đạo xây dựng đội ngũ GV phục vụ sự nghiệp giáo dục.
Bác Hồ rất coi trọng vấn đề bồi dưỡng và tự bồi dưỡng. Người chỉ rõ: “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt” và “các thầy cô giáo phải là kiểu mẫu về mọi mặt, tư tưởng, đạo đức, lối làm việc”. Trong sự nghiệp giáo dục, nếu không quan tâm bồi dưỡng GV thì không thể đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình phát triển đất nước. Có thể khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về “trồng người” là nền tảng lý luận vững chắc cho sự nghiệp phát triển giáo dục, trong đó có công tác bồi dưỡng GV.
Ở những thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX; đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận giáo dục, lý luận dạy học; xuất hiện ngày càng nhiều các bài viết đăng trên các tạp chí, tập san, báo ngành. Trong giai đoạn này có một số tác giả đề cập đến như: Phạm Minh Hạc (1986, Một số vấn đề về Giáo dục và Khoa học giáo dục); Nguyễn Kỳ (1987, Mấy vấn đề về quản lý giáo dục, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 34). Năm 1996, đề tài khoa học cấp Nhà nước có mã số KX 07-04: “Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới” đã bàn sâu về vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực, trong đó có đề cập đến vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ GV. 11 z Năm 1997, ấn phẩm “Tự học, tự đào tạo - tư tưởng chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam” ra đời, có nhiều bài viết khá sâu sắc của các tác giả tên tuổi như: cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Trần Bá Hoành, Vũ Văn Tảo.
Năm 1999, trong tạp chí Phát triển Giáo dục, số 1, Phạm Quang Huân có bài “Nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV trường phổ thông”. Gần đây, năm 2006, nhà xuất bản Đại học sư phạm xuất bản cuốn sách “Vấn đề GV, những nghiên cứu lý luận và thực tiễn” của tác giả Trần Bá Hoành. Nhiều công trình nghiên cứu đã để lại những bài học quý giá về xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên như: Bùi Văn Quân (Một số cách tiếp cận trong nghiên cứu đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ); Nguyễn Thị Phương Hoa (2002, Con đường nâng cao chất lượng cải cách các cơ sở đào tạo giáo viên); Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa (2007, Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên) v. Trong các nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thi Mỹ Lộc (2004, Nghề và nghiệp của người giáo viên); Nguyễn Hữu Châu (2008, Chất lượng giáo dục - những vấn đề lí luận và thực tiễn); Phạm Hồng Quang (2009, Giải pháp đào tạo giáo viên theo định hướng năng lực).đã đưa ra vai trò của người GV hiện nay đã có những sự thay đổi để phù hợp với các chức năng của người giáo viên rộng hơn, đồng thời chứng minh được năng lực giáo viên chính là yếu tố cơ bản quyết định chất lượng giáo dục.
Một trong những việc quan trọng nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ giáo viên là công tác kiểm định, đánh giá chất lượng GV, về vấn đề này các tác giả: Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sỹ Hồ, Đặng Quốc Bảo đã nêu lên những nguyên tắc chung của việc quản lý hoạt động dạy - học, từ đó chỉ rõ một số biện pháp quản lý nhà trường. Một trong số các biện pháp hữu hiệu để duy trì, điều chỉnh hoạt động của hệ quản lý đi đúng mục tiêu, kế hoạch đó là các biện pháp kiểm tra, thanh tra, đánh giá kết quả công việc trong từng giai đoạn nhất định. 12 z Trong những năm gần đây, đã có một số luận văn thạc sỹ với đề tài về nâng cao năng lực của GV như: “Biện pháp xây dựng đội ngũ GV trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông” của tác giả Trần Thị Vân Anh, 2010; “Quản lý hoạt động đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT” của tác giả Trần Trọng Hà, 2010. Trước yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, thực hiện mục tiêu chuẩn hóa và từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ GV THPT; nâng cao mức độ đáp ứng chuẩn nghề nghiệp của GV THPT là một yêu cầu không thể thiếu nhằm giúp GV đổi mới phương pháp giảng dạy và khắc phục những điểm yếu của mình.
Những tài liệu đã dẫn viết về giáo dục, bồi dưỡng GV và công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá trong giáo dục của các nhà nghiên cứu lý luận giáo dục là những tư liệu quý, thiết thực giúp chúng tôi tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài: “Biện pháp nâng cao mức độ đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên THPT thị xã Cao Bằng”. Một số khái niệm cơ bản 1. Giáo viên THPT 1. Giáo viên Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: "Giáo viên là người dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương" [41, tr.
Điều 70 Luật giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 đã đưa ra định nghĩa pháp lý đầy đủ về Nhà giáo và những tiêu chuẩn của một Nhà giáo: “1. Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây: a) Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; b) Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; 13 z c) Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp d) Lý lịch bản thân rõ ràng” [20, tr. Luật giáo dục 2005 cũng đã quy định rất cụ thể về tên gọi đối với từng đối tượng Nhà giáo theo cấp, bậc giảng dạy và công tác.
Theo đó, Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên. Nhà giáo giảng dạy và công tác ở các cơ sở giáo dục đại học và sau đại học gọi là giảng viên. Trường trung học phổ thông Nhà trường là cơ sở đào tạo của ngành giáo dục- đào tạo, nơi trực tiếp giáo dục và đào tạo học sinh, sinh viên, nơi thực thi mọi chủ trương đường lối, chính sách, chế độ, nội dung, phương pháp tổ chức giáo dục của Đảng và Nhà nước. Đó cũng là nơi diễn ra quá trình lao động giảng dạy của thầy, lao động học tập của trò, hoạt động của bộ máy quản lý nhà trường.
Mục tiêu giáo dục của nhà trường là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp. Trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành, bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo điều 26, Luật giáo dục 2005 : Giáo dục THPT được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là mười lăm tuổi.
7] Vị trí của trường trung học trong hệ thống giáo dục quốc dân được nêu rõ tại điều 2, Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học của Bộ GD&ĐT: “Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng”.2] Luật giáo dục 2005 qui định: “Mục tiêu của giáo dục THPT là nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ 14 z thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [20, tr. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục THPT được qui định trong Luật giáo dục 2005: “Giáo dục THPT phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh” [20, tr. THPT là bậc học cuối cùng của giáo dục phổ thông, là cầu nối giữa giáo dục phổ thông với giáo dục đại học, sau đại học và giáo dục nghề nghiệp.
Như vậy trường trung học phổ thông có vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Số học sinh tốt nghiệp THPT sẽ bước vào cuộc sống lao động hoặc tiếp tục vào học các trường nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học.