Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một sổ khái niệm cơ bản 1. Các khái niệm liên quan đến TNGT Trước đây, thuật ngữ “tai nạn” được xem như một sự kiện bất ngờ, tình cờ xảy ra, không có nguyên nhân rõ ràng. Nhưng qua nhiều năm kinh nghiệm, người ta đã biết được “TNTT” nói chung và “tai nạn giao thông” nói riêng là những sự kiện có thể đoán trước được và phần lớn có thể phòng chống được.
hầu hết các quốc gia trên thế giới đã tổ chức nghiên cứu TNGT một cách hệ thống, đề ra các biện pháp phòng tránh hoặc giảm bớt các hậu quả xấu do TNGT gây ra đối với cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội. • Tai nạn giao thông: Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): • Tai nạn giao thông (Transport accident): là bất kỳ tai nạn nào liên quan đến một phương tiện được chế tạo hoặc được sử dụng chính tại thời điểm đang chuyên chở người hoặc vật từ nơi này đến nơi khác [40], • Một tai nạn giao thông (A traffic accident): là một tai nạn xe cộ bất kỳ nào xảy ra trên đường công cộng (ví dụ như điểm đầu và điểm cuối trên đường công cộng hoặc liên quan phần nào đến phương tiện trên đường công cộng). Tai nạn giao thông được coi là xảy ra trên đường công cộng trừ khi địa điểm được xác định rõ, loại trừ các trường hợp tai nạn liên quan đến các phương tiện không đi trên đường, được xếp vào tai nạn không do giao thông trừ khi lập luận ngược lại được nêu rõ [40], Các định nghĩa khác'. • Chấn thương giao thông là những chẩn thương: (i) xảy ra trên đường công cộng dành cho người và các phương tiện giao thông đi lại; (ii) có hậu quả là một hoặc 7 nhiều người bị chết hoặc thương tổn, và (iii) có ít nhất một phương tiện giao thông liên quan.
Các chấn thương giao thông cũng bao gồm cả những va chạm giữa xe cộ và động vật. những vật cổ định trên đường. Những trường hợp do tự ngã trên đường (không va chạm với bất kỳ ai, cái gì) trên đường cũng được tính là chấn thương giao thông) [7], -Tai nạn giao thông là sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý mổn chủ quan của người điều khiển phương tiện giao thông khi đang di chuyển trên đường giao thông, do vi phạm qui tẳc an toàn giao thông hay do gặp những tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, gây nên thiệt hại nhất định về người và tài sản. • Chấn thương giao thông là những chấn thương (do ngã, tai nạn ô tô, xe máy, ngã cây, tai nạn lao động.dẫn đến bị vết thương phần mềm chảy máu, bong gân, phù nề xây xát, gãy xương, gãy răng, vỡ thủng nội tạng phải mổ, chấn thương sọ não, bỏng các loại,.
mà cần đến sự chăm sóc hoặc điều trị y tế, hoặc bị hạn chế sinh hoạt hàng ngày mất tối thiểu 24h) xảy ra trong quá trình tham gia giao thông, có liên quan tới các loại phương tiện như: Ò tô, xe máy, xe đạp hoặc xe công nông. • Vụ tai nạn: là những vụ việc xảy ra do va chạm giao thông, đổ xe, lật thuyền, sập nhà, hầm lò,. Một vụ tai nạn có thể dẫn đến hậu quả thiệt hại về vật chất hoặc người. Một vụ tai nạn có thể không có nạn nhân hoặc có nhiều hơn một nạn nhân [7].
• Phòng chống tai nạn giao thông: là các hoạt động để phòng và giảm thiểu các hậu quả do tai nạn giao thông gây nên. Hoạt động phòng chống tai nạn giao thông bao gồm cả dự phòng cấp 1, 2 và 3 cũng như các khía cạnh về chăm sóc cấp tính và phục hồi chức năng do chấn thương giao thông gây nên [7], • Tai nạn không do giao thông: là tai nạn xe cộ xảy ra bất kỳ ở bất cứ nơi nào khác đường công cộng [40], 8 Một người không thuộc phương tiện giao thông-, ỉà người đang được vận chuyển đi bàng một phương tiện nhưng không ở vị trí thông thường dành cho lái xe hoặc hành khách, hoặc vị tri dành để chở hàng hóa [40]. • Lái xe: là một người đang điều khiển một phương tiện giao thông hoặc đang có ý định điều khiển phương tiện đó [40]. • Người đì bộ: là một người bất kỳ liên quan đến một vụ tai nạn không cùng lúc với đi trong hoặc trên phương tiện xe máy, tàu hoả, xe điện hoặc xe súc vật kéo, các phương tiện khác, hoặc trên xe đạp.
• Người đi xe đạp: là những người đi trên chiếc xe có bàn đạp hoặc trên xe ba bánh hoặc ngồi đằng sau một phương tiện như vậy [40], • Người đi xe mô tô: là người ngồi trên xe mô tô hoặc trên xe ba bánh hoặc ngồi đàng sau phương tiện này [40]. Khái niệm về vị thành niên Theo Tổ chức Y tế thể giới, Vị thành niên là những người trong độ tuổi từ 10-19 tuổi. Căn cứ vào tình hình thực tể của Việt Nam. năm 1996, Vụ Bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em và Kẻ hoạch hóa gia đình thuộc Bộ Y tế đã đưa ra đề nghị xếp tuổi của vị thành niên thành hai nhóm : nhóm 1: từ 10 - 14 tuổi ; nhóm 2: từ 15 - 19 tuổi [12].
Thực trạng TNGTĐB trên thế giói và Việt Nam 1. Thực trạng TNGTĐB trên thế giói Theo báo cáo toàn cầu về phòng chổng thương tích GTĐB do Tổ chức Y tế thế giới và Ngân hàng thế giới công bổ năm 2004, mỗi năm trên trên thế giới gần 1,2 triệu người chết và hàng triệu người bị thương hoặc tàn tật do va chạm GTĐB, trong đó 85% số chết và 90% sổ năm sống khỏe mạnh bị mất đi do thương tật là ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Bên cạnh những con số thống kê về số trường hợp tử vong do TNGT mới là phan nổi của tảng băng về tình hình TNGT, 9 trên thực tế con số bị thương và tàn tật do TNGT hằng năm có thể lên đến từ 20 đến 50 triệu người. Các dự đoán đã chỉ ra rằng, giữa năm 2000 và 2020 số người chết do GTĐB sẽ giảm ở nước có thu nhập cao nhưng tăng đáng kể ờ nước có thu nhập thấp và trung bình.
Tính trên toàn cầu, trên 40% trường hợp tử vong do va chạm GTĐB xảy ra ở nhóm tuổi 0-25. Thương tích GTĐB là nguyên nhân thứ hai gây tử vong trong nhóm người trẻ từ 5-25 tuổi [41], Cùng với thiệt hại về người là những thiệt hại khổng lồ về kinh tế, bao gồm: chi phí mai táng người chết, chi phí y tế cho người bị thương, thiệt hại về phương tiện giao thông, về hạ tầng, chi phí khắc phục, điều tra vụ TNGT đó cùng với thiệt hại do hao phí thời gian lao động của chính người bị tai nạn và cả của những người chăm sóc người đó. Mặt khác TNGT gây nên những tác động tâm lý cả trước mat cũng như về lâu dài đối với mọi người, nó để lại những di chứng về tâm lý hết sức nặng nề cho người bị tai nạn, người thân và nếu như trong một địa phương, một quốc gia xảy ra TNGT quá nhiều sẽ gây nên hiện tượng bất an cho cư dân ở đó. Ước tính trên thế giới mỗi năm chi phí do va chạm GTĐB là 518 tỉ đô la Mỹ.
Thiệt hại do va chạm GTĐB chiếm 1-5% tổng sản phẩm quốc nội ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, và chiếm 2% tổng sản phẩm quốc nội ở các nước có thu nhập cao [41]. Trong khi những ‘‘con đường an toàn nhất” được ghi nhận ở châu Âu. nơi có tỷ lệ người chết vì TNGT là 11 người/100.000 cư dân thì ở châu Phi và các quốc gia phía Đông Địa Trung Hải có tỳ lệ trung bình là 28,3 và 26,3 người/100. Tổ chức Y tế thế giới cho biết mỗi năm ở châu Mỹ có đến 134.000 người thiệt mạng vì TNGT, chiếm hơn 10% của cả thế giới, trong đó Mỹ đứng đầu với 44.000 người, tiếp đển là Brazil, Mexico và Venezuela [2].
Thiệt hại do TNGT đường bộ ở Mỹ mỗi năm vào khoảng 164 tỷ USD [3]. Theo các nghiên cứu do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) hồ trợ, dựa trên cơ sở số liệu thống kê về y tế (số liệu ghi nhận tại bệnh viện. Bộ Y tế), nghiên cứu các mẫu và kinh nghiệm quốc tế, cho thấy: tông số vụ TNGT ở các nước khu vực 10 Đông Nam Á năm 2003 đã làm cho 75.193 người chết và 4.578 người bị thương, nhiều nạn nhân bị mất khả năng lao động trầm trọng trong suốt cuộc đời còn lại. Thiệt hại về kinh tế hàng năm do TNGT ước tính khoảng 15 tỷ USD, bằng 2,2% tổng sản phẩm quốc nội của cả khu vực.
Tỷ lệ phần trăm tổn thất GDP hàng năm do TNGT từ 0,5% ở Singapo đến 3,21% ở Campuchia. trung bình của khu vực này là 2,23%. Indonesia bị tổn thất nhiều nhất về tiền tệ, tới 6,03 tỷ USD/năm (bang 2,91% GDP hàng năm), sau đó là Thái Lan với 3 tỷ USD (2,1% GDP). Theo ADB, nếu các nước khu vực Đông Nam Á không bắt đầu giải quyết vấn đề ATGT một cách nghiêm túc thì trong 5 năm tới sẽ có khoảng 385.000 người chết và 24 triệu người bị thương khi tham gia giao thông trên đường, gây ton thất kinh tế khoảng 88 tỷ USD [2].
Thực trạng TNGTĐB tại Việt Nam Từ khi châu Á thoát khỏi cuộc khủng hoảng dần phát triển theo xu hướng phát triển chung của nền kinh tế châu Á. điều này đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng quá trình cơ giới hóa ở một số khu vực thành thị lớn (dựa vào sổ lượng các loại xe cơ giới), vấn đề nảy sinh trong bối cảnh này đó là tình hình số lượng TNGT tăng một cách báo động, nó tác động xấu đến nền kinh tế-xã hội, kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội. Theo sổ liệu của ủy ban An toàn giao thông Quốc gia chỉ tính riêng năm 2007 nước ta đã xảy ra 14.624 vụ TNGT, làm chết 13.150 người và bị thương 10. So với năm 2006 giảm 77 vụ TNGT (0,52%), giảm 740 người bị tai nạn (giảm 6.56%), nhưng số người chết vì TNGT lại tăng 411 người (tăng 3,23%).
Số vụ TNGTĐB xảy ra nhiều nhất (13. Riêng số người chết vì TNGTĐB đã là 12.800 người, chiếm hơn 96% sổ người chết vì TNGT. số người chết vì TNGT tăng nhiều nhất vào 3 tháng đầu năm 2007 [2]. Theo báo cáo tình hình tai nạn thương tích định kỳ trong ngành y tế, nhìn chung tỷ suất mắc TNGTĐB trên toàn quốc qua các năm từ 2002-2007 tăng lên qua các năm.
tỷ suất mắc TNGT/100.000 dân có giảm không đáng kể 11 so với năm 2007 (258,4/100.