Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Định nghĩa Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh lý hô hấp mạn tính có đặc trưng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn, sự cản trở này thường tiến triển từ từ và liên quan đến phản ứng viêm bất thường của phổi và các phân tử hoặc khí độc hại, trong đó khói thuốc đóng vai trò hàng đầu. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có thể dự phòng và điều trị được [5], [20], [23].
Dịch tễ học 1. Tình hình dịch tễ thế giới Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) đến năm 1997 đã có khoảng 600 triệu người mắc BPTNMT bệnh đc xếp hàng thứ 4 về nguyên nhân gây tử vong và là nguyên nhân gây tàn tật thứ 12. Ước tính trong thập kỷ này số người mắc BPTNMT tăng gấp 3 – 4 lần và đến năm 2020 bệnh sẽ đứng hàng thứ 3 về nguyên nhân tử vong và đứng thứ 5 trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu [5]. Nghiên cứu BOLD (Burden of Obstructive Lung Disease study) công bố kết quả về tỷ lệ mắc của 12 điểm ở 12 quốc gia cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT cao nhất tại thành phố Cape Town, Nam Phi 22,2% nam giới và 16,7% nữ giới.
Các điểm châu Á: Quảng Châu, Trung Quốc tỷ lệ mắc BPTNMT ở nam là 9,3% và nữ là 5,1 %. Ở Manila, Phillippines tới 18,8% ở nam và 6,8% ở nữ giới. Tỷ lệ mắc BPTNMT ở nam giới cao có thể một phần do sự cộng hưởng yếu tố nguy cơ là hút thuốc lá ở nam giới cao hơn [13], [14]. Ở Canada, theo điều tra y tế cộng đồng Canada năm 2005 xác định rằng: 4,4% dân số 35 tuổi trở lên thì có gần 750000 người bị mắc BPTNMT [29].
Jindal và cộng sự (2006) nghiên cứu 35295 đối tượng tại Ấn Độ cho thấy có 4,1% tỷ lệ người dân được chẩn đoán là BPTNMT trong đó tỷ lệ 5 nam và nữ lần lượt là 1,56 và 1. Tỷ lệ người hút thuốc lá và không hút thuốc lá lần lượt là : 2,56 và 1 [25]. Nghiên cứu của A.Lokke và cộng sự (2006) nghiên cứu 8045 đối tượng trong vòng 25 năm tại Copenhagen (Đan Mạch) đưa ra kết luận: chức năng phổi bất thường từ 4% nam giới không hút thuốc ( 9% nữ giới) tăng lên 41% nam giới liên tục hút thuốc (31% ở phụ nữ hút thuốc) [26]. Cũng theo nghiên cứu của G.
Viegi và cộng sự (2007) nghiên cứu ở Na Uy tỷ lệ mắc BPTNMT theo GOLD xác định là 8,6% ở nam giới , 3,6% ở nữ giới, 1,8% ở những người không hút thuốc lá bao giờ và tăng lên 22,7% ở những người hút thuốc lá liên tục trên 20 gói [33]. Tỷ lệ mắc BPTNMT tính cao nhất ở những nước đã thịnh hành việc hút thuốc, ngược lại tỷ lệ mắc BPTNMT thấp ở những nước ít hút thuốc hơn hay những nước có tỷ lệ tiêu thụ thuốc lá trên mỗi cá thể thấp [5]. Tình hình dịch tễ tại Việt Nam Ở Việt Nam, Ngô Quý Châu và cộng sự (2006) nghiên cứu tỷ lệ mắc BPTNMT trong dân cư một số tỉnh thành phố phía Bắc cho thấy tỷ lệ mắc bệnh chung cho 2 giới là 5,1%, tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới là 6,7% , và ở nữ giới là 3,3% [5]. Báo cáo của Đinh Ngọc Sỹ và cộng sự trong Hội nghị Lao và Bệnh phổi tháng 6 năm 2011 cho biết tỉ lệ BPTNMT trong cộng đồng dân cư Việt Nam từ 40 tuổi trở lên là 4,2%; trong đó nam là 7,1% và nữ là 1,9%.
Nếu chia theo khu vực thì nông thôn là 4,7%, thành thị là 3,3% và miền núi là 3,6%. Các yếu tố nguy cơ cho BPTNMT tại Việt Nam cũng như mọi nơi khác trên thế giới là hút thuốc, vốn gây tỉ lệ mắc BPTNMT tăng lên gấp 4 lần. Các tác giả cũng chú ý đến chất đốt sinh khối và cho thấy đun bếp với củi, rơm rạ làm tỉ lệ mắc BPTNMT tăng lên gấp 2 lần so với khí đốt. Ngoài thuốc lá và chất đốt sinh khối, tình trạng ô nhiễm môi trường và đặc biệt là lao phổi đã làm tăng tỉ lệ mắc BPTNMT tại Việt Nam [4].
6 Một nghiên cứu khác của Đinh Ngọc Sỹ và Nguyễn Viết Nhung (2010) nghiên cứu tình hình dịch tễ Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT chung toàn quốc ở tất cả các lứa tuổi nghiên cứu là 2,2%, tỷ lệ mắc BPTNMT ở nam là 3,4 và nữ là 1,1%. Tỷ lệ mắc BPTNMT ở lứa tuổi 40 là 4,2%, trong khi ở nhóm dưới 40 tuổi, tỷ lệ chỉ là 0,4%. Có sự khác biệt rõ rệt giữa tỷ lệ BPTNMT ở nam/nữ ở lứa tuổi này (7. Ở nông thôn có tỷ lệ mắc BPTNMT cao hơn miền núi và thành thị, song sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê.
Trong cộng đồng dân cư từ 40 tuổi trở lên, miền Bắc tỷ lệ mắc BPTNMT là cao nhất (5,7%) so với miền trung là 4,6 % và miền nam là 1,9 % [14]. Nghiên cứu của Hoàng Thị Lâm và Nguyễn Văn Tường (2010): Tỉ lệ BPTNMT ở những người từ 23 đến 72 tuổi trong nghiên cứu là 7,1% trong đó nam giới chiếm 10,9%, nữ giới là 3,9%. 10% dân số hơn 40 tuổi mắc BPTNMT. Hơn một nửa số bệnh nhân là BPTNMT giai đoạn I.
Bệnh tăng dần theo tuổi và có mối liên quan chặt chẽ với hút thuốc lá. BPTNMT gặp nhiều ở bệnh nhân cao huyết áp, bệnh tim mạch, hen phế quản, viêm phế quản mạn. Tỉ lệ BPTNMT ở người lớn từ 23 đến 72 tuổi ở địa bàn Hà Nội là 7,1%. Tóm lại BPTNMT trong giai đoạn 2009-2010 ở Hà Nội, tăng dần theo tuổi và có mối liên quan đến hút thuốc lá và các bệnh mạn tính đường hô hấp, tim mạch [12].3 Các yếu tố nguy cơ gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 1.1 Hút Thuốc Đây là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Khoảng 15- 20% số người hút thuốc lá có triệu chứng lâm sàng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và có khoảng 80-90% bệnh nhân phổi tắc nghẽn mạn tính có hút thuốc. Trẻ em trong gia đình có người hút thuốc lá bị các bệnh đường hô hấp với tỷ lệ cao hơn trẻ em ở gia đình không có người hút thuốc lá [4], [5]. Xu hướng hút thuốc lá ở Việt Nam bắt đầu giảm, nhưng tỷ lệ hút vẫn còn cao. Năm 2010, tỷ lệ hiện hút thuốc lá (gồm cả thuốc lào) trong số những người từ 15 tuổi trở lên là 47,4% ở nam giới và 1,4% ở nữ giới.
Việt Nam vẫn nằm 7 trong nhóm 15 nước có số người hút thuốc lá nhiều nhất trên thế giới với khoảng 15,3 triệu người trưởng thành đang hút thuốc lá. Đặc biệt, tỷ lệ hút thuốc lá của thanh thiếu niên Việt Nam vẫn ở mức cao và độ tuổi bắt đầu hút thuốc lá ngày càng trẻ [1]. Với tỷ lệ hút thuốc cao, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đứng đầu khu vực và thế giới. Theo ghi nhận của Bộ Y tế, BPTNMT không những tăng số người nhập viện điều trị mỗi năm với tần suất khoảng 6,7% mà còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Trong đó, đối tượng nam giới bị ung thư phổi liên quan đến BPTNMT chiếm một tỷ lệ phần lớn. Cứ 100 người có 6 người mắc. Theo đánh giá của Hội lồng ngực Mỹ cho thấy, thuốc lá (cả hút thuốc chủ động và thụ động) là yếu tố nguy cơ gây mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính lớn nhất hiện nay 90% người BPTNMT là do thuốc lá gây nên [6]. Người hút thuốc lá hoặc người đã từng hút thuốc lá ≥ 20 gói / năm có nguy cơ mắc COPD cao gấp 7,15 lần so với người không hút thuốc [6].2 Các yếu tố môi trường - Ô nhiễm môi trường: Tiếp xúc nhiều với bụi và hóa chất nghề nghiệp ( hơi, chất kích thích, khói), ô nhiễm không khí trong và ngoài nhà ( khói bếp do đun than củi, rơm, than…) - Nhiễm trùng đừờng hô hấp: Nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ em dưới 8 tuổi gây tổn thương lớp tế bào biểu mô đường hô hấp và các tế bào lông chuyển, làm giảm khả năng chống đỡ của phổi.
Nhiễm virus, đặc biệt virus hợp bào hô hấp có nguy cơ làm tăng tính phản ứng phế quản, làm cho bệnh phát triển. - Yếu tố cá thể tăng tính phản ứng của phế quản: là yếu tố nguy cơ phát triển bệnh phổi mạn tính tắc nghẽn. Tăng tính phản ứng phế quản gặp với tỷ lệ 8- 14% ở người bình thường. - Thiếu anpha1 – antitrypsin: là yếu tố di truyền được xác định chắc chắn gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
8 - Tuổi: tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cao hơn ở người già. - Giới tính: Người ta thấy rằng tỷ lệ mắc BPTNMT của nam giới cao hơn nữ giới liên quan tới hút thuốc lá. Nhưng những năm trở lại đây tỷ lệ mắc BPTNMT ở nữ ngày càng tăng. Sự khác nhau về giới trong BPTNMT là kết quả của sự tương tác về gen giới tính và sự khác biệt giới tính về văn hoá xã hội trong thời kỳ niên thiếu, dậy thì và trưởng thành.Sự khác biệt về giới tính trong chức năng sinh lý của phổi và đáp ứng của hệ miễn dịch ảnh hưởng đến BPTNMT.
Ngày càng có nhiều bằng chứng rằng những hormon giới tính ảnh hưởng đến sự phản ứng của đường thở trong suốt cả cuộc đời. Ngoài ra sự khác biệt này còn liên quan đến sự khác nhau ở mức độ phơi nhiễm và các loại yếu tố phơi nhiễm khác như khói thuốc lá, nghề nghiệp và ô nhiễm môi trường…và thường giới nữ có nhiều rủi ro hơn nên cần lưu ý hơn nhất là ô nhiễm trong nhà. Yếu tố giới tính, hút thuốc lá, tiếp xúc với chất đốt sinh khói cho thấy có liên quan đến BPTNMT, yếu tố giới tính đã hiệu chỉnh qua phân tích hồi quy đa biến, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu cho thấy nguy cơ nam giới mắc cao gấp 2,83 lần so với nữ giới người hút thuốc lá nguy cơ mắc BPTNMT cao gấp 7,15 lần so với người không hút thuốc lá và cho thấy người tiếp xúc với chất đốt sinh khói thì nguy cơ mắc bệnh BPTNMT tăng gấp 3,6 lần so với người bệnh không tiếp xúc với chất đốt sinh khói [5], [6], [19], [23].1 Các triệu chứng cơ năng Các triệu chứng cơ năng chủ yếu của người BPTNMT đó là: ho (thường kèm theo khạc đờm) và khó thở khi gắng sức.